vanban.org

Bản án 127/2024/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ Tuyên án 28/08/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 601 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T về việc yêu cầu ông Trương Thanh B và bà Hà Bích Th bồi thường thiệt hại số tiền 285.000.000 đồng. Đình chỉ yêu yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T đối với điện lực TL và đối với số tiền 350.000.000 đồng do bà T rút yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tanh - Ba, Thuy"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 601 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2024/DS-ST
Ngày: 28 - 8 - 2024
V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Kim Son

2. Ông Trần Văn Mới

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 69/2024/TLST - DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 426/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị T, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Số ABC ấp TV, xã TL, huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng Ng, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Số CD MC, phường VT, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn:

+ Điện Lực TL

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hữu Tr, sinh năm 1965

Địa chi: Khu Hành Chính huyện TL, ấp TT B, thị trấn TL, huyện TL, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến D – Phó giám đốc. (có mặt)

+ Ông Trương Thanh B, sinh năm 1985 (có mặt)

+ Bà Hà Bích Th, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp ĐT, xã ĐB, huyện TL, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Th: Ông Trương Thanh B, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp ĐT, xã ĐB, huyện TL, thành phố Cần Thơ.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông B và bà Th: Luật sư Đỗ Vinh Q – Văn phòng luật sư Vinh Q, thuộc đoàn luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).

Địa chỉ: Số XYZ/K khu vực HJ, phường CVL, quận OM, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt)

+ Ông Trần Văn Tr, sinh năm 1967 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp ĐT, xã ĐT, huyện OM (nay là huyện TL), thành phố Cần Thơ.

+ Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm 2005 (có mặt)

Địa chỉ: Số ABC ấp TV, xã TL, huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 13/01/2024 ông Trần Thanh P được ông Trương Thanh B thuê sửa chữa nhà. Trong lúc trèo lên mái nhà, ông P đã bị điện giật tử vong. Sau khi sự cố xảy ra gia đình bà T nhiều lần yêu cầu ông B và điện lực TL bồi thường thiệt hại cho gia đình. Tuy nhiên, Điện lực TL và ông B, bà Th không đồng ý bồi thường. Do đó bà T khởi kiện yêu cầu Điện lực TL cùng ông B và bà Th bồi thường thiệt hại cho gia đình ông P số tiền 635.000.000 đồng.

Ông Đỗ Hữu Tr trình bày: Căn cứ hợp đồng mua bán điện đầu tiên của khách hàng thì đường dây điện cung cấp điện cho các hộ dân trong đó có ông Trương Thanh B được cung cấp từ năm 2006. Căn cứ khoản 4,8,40 Điều 7 Luật điện lực quy định về khoản cách an toàn và các hành vi vi phạm về khoản cách an toàn. Việc ông P tự ý lên mái nhà chạm vào dây điện hay tự ý di dời đường dây điện mà không thông báo cho điện lực nên điện lực xác định không có lỗi và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặc khác, khi sự việc xảy ra, gia đình ông P đã từ chối khám nghiệm tử thi nên cơ quan chức năng không khám nghiệm tử thi để xác định nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông P là do nguồn điện gây ra.

Ông Huỳnh Thanh B trình bày: Tôi thừa nhận có thuê ông P sửa chữa nhà nhưng không có yêu cầu ông P trèo lên mái nhà. Việc ông P bi điện giật dẫn đến tử vong là ngoài ý muốn của tôi. Tôi xác định không có lỗi và không đồng ý bồi thường. Trước đó tôi đã hỗ trợ cho gia đình ông P số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông B tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bà T số tiền 20.000.000 đồng, đồng thời giữ nguyên ý kiến trình bày không đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bà T.

Ông Trần Văn Tr, bà Nguyễn Thị N, chị Trần Thị Thùy D thống nhất với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị T và không có yêu cầu độc lập.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Trương Thanh B và bà Hà Bích Th trình bày tranh luận: Ông P chết là do vô ý va chạm vào nguồn điện hạ áp. Gia đình bà T không đồng ý tiến hành khám nghiệm tử thi của ông P và đã cam kết tự chịu trách nhiệm và không khiếu nại về sau. Vì vậy, bà T không có căn cứ yêu cầu ông B và bà Th bồi thường số tiền 285.000.000 đồng. Hơn nữa, nơi ông P chết là trên mái nhà của hộ dân khác, không phải chết do đường điện trong nhà ông B. Tại phiên tòa, phía Điện lực TL cũng thừa nhận đường dây hạ thế do Điện lực quản lý, việc kéo đường dây từ trụ lớn xuống cung cấp cho các hộ dân sử dụng thì quyền quản lý từ trụ lớn đến đầu trên của đồng hồ điện thuộc quyền quản lý của phía Điện lực, đoạn dây từ dưới đồng hồ trở xuống mới thuộc quản lý của hộ dân sử dụng điện. Vì vậy, việc buộc vợ chồng ông B, bà Th bồi thường là không phù hợp. Phía nguyên đơn căn cứ Điều 601 BLDS, về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra để yêu cầu bồi thường là không đủ cơ sở vì nguồn nguy hiểm không phải do gia đình ông B quản lý, mà do Điện Lực quản lý. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu vợ chồng ông B, bà Th bồi thường.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về nội dung: Căn cứ Điều 6; Khoản 6, Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu đối với Điện lực TL. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với ông B và bà Th. Ghi nhận sự tự nguyện của ông B về việc hỗ trợ cho bà T số tiền 20.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Cao Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại với các bị đơn có nơi cư trú và trụ sở tại huyện TL, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TL.

Tại phiên tòa, bà Cao Thị T rút lại yêu cầu khởi kiện đối với Điện Lực TL. Việc rút yêu cầu này của bà T trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc. Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với bị đơn là Điện Lực TL.

Tại đơn khởi kiện, bà T yêu cầu Điện lực TL cùng ông B và bà Th bồi thường số tiền 635.000.000 đồng ( bao gồm: Tiền chi phí mai tang 80.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng cho cháu Trần Thiên Ân là con ruột ông P 405.000.000 đồng; Bồi thường tổn thất tinh thần 150.000.000 đồng). Tại phiên tòa, bà T rút lại một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu ông B và bà Th bồi thường số tiền 285.000.000 đồng. Hội đồng xét xử đình chỉ một phần đối với số tiền 350.000.000 đồng do bà T rút yêu cầu.

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà T đối với số tiền 285.000.000 đồng: bà T xác định, vào ngày 13/01/2024 ông Trần Thanh P (chồng bà T) do được ông Trương Thanh B và bà Hà Bích Th thuê sửa chữa nhà. Trong lúc trèo lên mái nhà ông P đã bị điện giật tử vong. Vì vậy, bà yêu cầu ông B và bà Th bồi thường thiệt hại cho gia đình bà gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và cấp dưỡng nuôi cháu Trần Thiên Ân là con ruột ông P tổng số tiền 285.000.000 đồng.

Tại đơn khởi kiện bà Cao Thị T xác định “trong lúc ông P trèo lên mái nhà của ông B để làm nhà thì đường dây điện công cộng của Điện Lực TL do bị tróc vỏ bảo vệ bên ngoài trước đó rớt chạm vào người ông P gây tai nạn dẫn đến ông P chết”. Tại biên bản ghi lời khai ngày 13/01/2024 tại Công an xã ĐB, bà T trình bày: “….Đến khoảng 14 giờ 15 phút ngày 13/01/2024 tôi được cho hay là chồng tôi bị điện giật chết. Khi tôi đến thì thấy chồng tôi được để nằm trên mé sông tại khu dân cư”. Tại phiên tòa bà T cũng xác định, khi bà đến nơi thì ông P đã được người dân đưa xuống đất, bà không chứng kiến quá trình ông P xảy ra tại nạn.

Tại lời khai ngày 13/01/2024 ông Lê Hồng Viễn trình bày: “Tôi đi trên nóc nhà bà U và ông P đi trên nóc nhà bên kia tôi không biết tên”. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định “hiện trường đã bị xáo trộn một phần”. Căn cứ lời trình bày của ông Huỳnh Văn Sao là người được ông P thuê sữa chữa nhà cho ông B xác định: “khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày ông P leo lên mái nhà ông S để tháo dỡ cây đà bên tôi thì bị dây điện dẫn điện treo ngang mái nhà…giật làm ông P chết”. Ông S xác định ông cùng ông G và ông B và một số người dân đưa ông P xuống đất. Những người làm chứng do bà T cung cấp là ông Lý Hải Tr và ông Nguyễn Hoàng Th1 xác định “sau khi nghe thấy mọi người la lên là có người bị điện giật chết thì có đến và thấy ông P nằm trên mái nhà ông B”.

Từ những tài liệu nêu trên, có đủ căn cứ xác định cả bà T và ông B, bà Th và những người dân xung quanh đều không chứng kiến việc ông P xảy ra tai nạn va chạm vào dây điện như thế nào dẫn đến tử vong. Các đương sự căn cứ vào sự việc do người dân tường thuật lại vì nhìn thấy ông P nằm trên mái nhà trong tình trạng tay nắm dây điện và tự kết luận ông P tử vong do điện giật. Mặc khác, khi sự việc xảy ra, người dân tự ý làm xáo trộn hiện trường, có người nhìn thấy ông P nằm trên mái nhà của người dân không rõ tên, có người cho rằng ông P nằm trên mài nhà ông S, có người lại cho rằng ông P nằm trên mái nhà ông B. Phần lớn người dân đều xác định do ông P nắm vào dây điện trên mái nhà các hộ dân dẫn đến tử vong. Theo sự xác định của đại diện điện Lực TL tại phiên tòa, đường dây điện kéo trên mái nhà của các hộ dân là đường điện hạ áp do Công ty điện lực quản lý, chủ sở hữu là Công ty điện lực 2 (nay là Tổng công ty điện lực Miền Nam). Dây hạ áp là do điện lực hạ áp để bán điện cho người dân sử dụng, người dân không quản lý, không sử dụng trực tiếp dây hạ áp đó.

Vấn đề quan trọng, sau khi sự việc xảy ra, gia đình bà T gồm có bà T, cha mẹ nuôi ông P và con bà T đều từ chối tiến hành khám nghiệm tử thi, không yêu cầu trưng cầu giám định nguyên nhân dẫn đến ông P tử vong. Chỉ dựa vào lời trình bày của người dân, bằng trực quan nhìn thấy tay ông P nắm vào dây điện để xác định ông P chết do điện giật là chưa đủ cơ sở. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự quy định: “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”. Trường hợp này ông B và bà Th không phải chủ sở hữu của nguồn điện hạ áp (không quản lý cũng không trực tiếp sử dụng). Hơn nữa, đường dây hạ áp nơi ông P tử vong là điện lực cung cấp điện cho nhiều hộ dân, không riêng gia đình ông B. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu ông B và bà Th bồi thường thiệt hại.

Bà T khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe nên thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 601 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T về việc yêu cầu ông Trương Thanh B và bà Hà Bích Th bồi thường thiệt hại số tiền 285.000.000 đồng.

2. Đình chỉ yêu yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T đối với điện lực TL và đối với số tiền 350.000.000 đồng do bà T rút yêu cầu.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trương Thanh B về việc hỗ trợ cho bà Cao Thị T số tiền 20.000.000 đồng.

4. Bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp được miễn.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ