vanban.org

Bản án 127/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2023. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Nhật C - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2023/HS-ST
Ngày: 19 - 7 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 173/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 548/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật C; giới tính: N; sinh năm: 1996; sinh tại: Tỉnh Bến Tre; căn cước công dân số: 083096000071; nơi đăng ký nhân khẩu nơi cư trú: 1 đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn H, con bà Nguyễn Thị Kim T; có 01 người con sinh năm 2015.

Tiền án:

Bản án 132/2016/HSST ngày 28/6/2016 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Ngày 29/4/2018 chấp hành xong án phạt tù, đã thi hành xong án phí ngày 09/8/2016.

Bản án 213/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân tuyên phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). C kháng cáo. Bản án số 70/HSPT ngày 20/02/2019 tuyên y án. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/6/2022.

Tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 24/02/2023 cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Bà Lê Đoàn Thị Mỹ T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: A, Tầng B, P, Nhà ở Xã H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, Nguyễn Nhật C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X biển số 50N2-394.17 lưu thông trên đường L thuộc phường T, Quận A. Khi đến trước nghĩa trang T2, đường L, Tổ G, Khu phố B, phường T, Quận A thì C phát hiện chị Lê Đoàn Thị Mỹ T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 59D2-883.42 chở Nguyễn Trúc Q ngồi phía sau. Lúc này, C thấy trong hộc nhỏ bên trái của xe T1 có để một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 nên C điều khiển xe mô tô chạy áp sát phía bên trái xe mô tô của chị T1 rồi dùng tay phải giật điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 của chị T1 và tăng ga xe chạy về hướng phường H, Quận A. Chị T1 truy hô đuổi theo đến khu đất trống thuộc Tổ D, Khu phố G, phường H, Quận A thì C tự té ngã và làm rơi điện thoại vừa cướp giật được. Sau đó, C bỏ xe chạy bộ được một đoạn thì bị chị T1 cùng người dân xung quanh bắt giữ.

Bản kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận A, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, số Imei1 354890380663407, số Imei2: 356995620663402, dung lượng 128GB, trị giá 1.650.000 đồng.

Vật chứng và xử lý vật chứng:

01 USB chứa hình ảnh liên quan đến vụ cướp giật tài sản (đính kèm hồ sơ vụ án).

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, số Imei1 354890380663407, số Imei2: 356995620663402, dung lượng 128GB. Cơ quan điều tra Công an Q1 đã trả cho bị hại Lê Đoàn Thị Mỹ T1;

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển số 50N2-394.17, số máy: KC34E5078798, số khung: RLHKC4413NY219568 do Nguyễn Nhật C đứng tên chủ sở hữu;

01 ba ga xe dùng để chở hàng và 01 thùng màu cam hiệu Lalamove để đựng hàng (gắn trên xe biển số 50N2-394.17).

01 áo thun dài tay màu cam, xám có in dòng chữ Lalamove màu trắng và 01 quần thể thao dài màu xanh có viền kẻ 03 sọc màu xanh dương (trang phục C mặc khi thực hiện hành vi cướp giật).

Về phần dân sự: Bị hại Lê Đoàn Thị Mỹ T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 20/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Nhật C về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo thành khẩn khai báo nên giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù lại tiếp tục phạm tội nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ ăn năn hối cải cho bị cáo. Căn cứ vào các điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án, đề nghị:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển số 50N2 - 394.17, số máy: KC34E5078798, số khung: RLHKC4413NY219568.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 ba ga xe dùng để chở hàng và 01 thùng màu cam hiệu Lalamove để đựng hàng (gắn trên xe biển số 50N2-394.17); 01 áo thun dài tay màu cam, xám có in dòng chữ Lalamove màu trắng và 01 quần thể thao dài màu xanh có viền kẻ 03 sọc màu xanh dương (trang phục C mặc khi thực hiện hành vi cướp giật).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, Nguyễn Nhật C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X biển số 50N2-394.17 lưu thông đến trước nghĩa trang T2, đường L, Tổ G, Khu phố B, phường T, Quận A thì C phát hiện chị Lê Đoàn Thị Mỹ T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 59D2-883.42 chở Nguyễn Trúc Q ngồi phía sau. C thấy trong hộc nhỏ bên trái của xe T1 có để một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 nên C điều khiển xe mô tô chạy áp sát phía bên trái xe mô tô của chị T1 rồi dùng tay phải giật điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 của chị T1 và tăng ga tẩu thoát. Chiếc điện thoại trị giá 1.650.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo dùng xe mô tô làm phương tiện phạm tội. Hành vi của bị cáo là có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, người đi đường. Đây là thủ đoạn nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội, được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, năm 2016 bị cáo bị kết án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích, năm 2018 bị cáo bị tiếp tục kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý và thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích. Nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định tội phạm và hình phạt của bị cáo C được quy định tại các điểm d, i khoản 2 Điều Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án:

Các vật chứng, Cơ quan Công an đã xử lý, lưu giữ vào hồ sơ vụ án thì không đề cập giải quyết:

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển số 50N2 - 394.17, số máy: KC34E5078798, số khung: RLHKC4413NY219568 do Nguyễn Nhật C đứng tên chủ sở hữu, C sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 ba ga xe dùng để chở hàng và 01 thùng màu cam hiệu Lalamove để đựng hàng (gắn trên xe biển số 50N2-394.17); 01 áo thun dài tay màu cam, xám có in dòng chữ Lalamove màu trắng và 01 quần thể thao dài màu xanh có viền kẻ 03 sọc màu xanh dương (trang phục C mặc khi thực hiện hành vi cướp giật) là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào các điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2023.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển số 50N2 - 394.17, số máy KC34E5078798, số khung RLHKC4413NY219568.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) ba ga xe dùng để chở hàng, 01 (một) thùng màu cam hiệu Lalamove để đựng hàng, 01 (một) áo thun dài tay màu cam, xám có in dòng chữ Lalamove màu trắng và 01 (một) quần thể thao dài màu xanh có viền kẻ 03 sọc màu xanh dương.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 106/QĐ-VKS ngày 20/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ