vanban.org

Bản án 127/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị C được ly hôn với anh Dương Tấn L. Về con chung: Giao con chung tên Dương Lê Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn và
nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Khen

Ông Hồ Minh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 252/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/5/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị C, sinh năm 1996 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực P, phường L, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Anh Dương Tấn L, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua quen biết tìm hiểu nhau chị Lê Thị C và anh Dương Tấn L đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2017 tại UBND xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hay cãi vã to tiếng, nguyên nhân chính là do anh L không chí thú làm ăn, không chăm lo cho gia đình, vợ con và đặc biệt là thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị C và anh L không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay, chị C và con về nhà ngoại sinh sống. Mặc dù cả hai cùng nhau trao đổi và rất cố gắng để hàn gắn, hai bên gia đình cũng thường xuyên khuyên can và hòa giải, tuy nhiên vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Nay chị C nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Lê Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Tấn L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Dương Lê Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 hiện đang sống với chị C. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 31/7/2023 anh Dương Tấn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị C là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2017 tại UBND xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Anh và chị C phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay, anh đồng ý ly hôn với chị C vì vợ chồng không hàn gắn được tình cảm.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Dương Lê Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 hiện đang sống với chị C. Khi ly hôn, anh L đồng ý giao con chung là cháu Dương Lê Đăng K cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh xin được vắng mặt khi Tòa án hòa giải và xét xử vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn chị Lê Thị C và bị đơn anh Dương Tấn L có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Lê Thị C khởi kiện tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn với bị đơn anh Dương Tấn L có địa chỉ tại xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Do đó Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Lê Thị C và bị đơn anh Dương Tấn L xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị C và anh Dương Tấn L kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2017 tại UBND xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Theo chị C trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên hay cãi vã to tiếng do bất đồng quan điểm sống với nhau. Chị C và anh L không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay, chị C và con về nhà ngoại sinh sống. Chị C xác định vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh L. Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 31/7/2023, anh L trình bày anh đồng ý ly hôn với chị C. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Dương Lê Đăng K, sinh ngày 30/8/2019. Con chung hiện đang do chị C nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, tại đơn xin vắng mặt đề ngày 31/7/2023 anh L đồng ý giao con chung là cháu Dương Lê Đăng K cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Dương Lê Đăng K cho chị Lê Thị C nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị C và anh Dương Tấn L đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị Lê Thị C và anh Dương Tấn L đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị C phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị C được ly hôn với anh Dương Tấn L.

2. Về con chung: Giao con chung tên Dương Lê Đăng K, sinh ngày 30/8/2019 cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Dương Tấn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Chị Lê Thị C phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ từ số tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005012 ngày 10/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ nên chị C không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ