vanban.org

Bản án 127/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 07/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 02 video ghi lại hình ảnh Trần Văn K dắt xe mô tô 77L2-255.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 02 video ghi lại hình ảnh Trần Văn K dắt xe mô tô 77L2-255.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2022/HSST
Ngày: 07/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Hòa

2. Ông Nguyễn Ron

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nhất là Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 07 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2022/QĐXX-HS ngày 24 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn K, tên gọi khác: Không, sinh năm 1989 tại Tp. Q, tỉnh B; Nơi cư trú: Tổ 56, khu vực 11, phường Đ, Tp. Q, tỉnh B; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Dũng E, sinh năm 1965 và bà Võ Thị T, sinh năm 1967; Vợ: Lê Thị Hoài P (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2015 và 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: 05 tiền sự: Ngày 28/6/2019, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Bình Định xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Ngày 15/8/2019, bị Công an phường Thị Nại xử phạt 1.200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự tại khu dân cư” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Ngày 24/9/2019, bị UBND phường Đống Đa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 06 tháng; Ngày 18/10/2020, bị Công an phường Đống Đa xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Ngày 10/8/2021, bị Công an thành phố Quy Nhơn xử phạt 6.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”; Nhân thân: Ngày 03/12/2021, Trần Văn K cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy Bình Định; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn; có mặt.

* Bị hại:

1. Anh Trương Minh P, sinh năm 1971; Trú tại: 05 Võ Mười, Tp. Quy Nhơn, Bình Định; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 26/11/2021, Trần Văn K đi bộ đến trước nhà số 255 Lê Thanh Nghị, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn thì K thấy xe mô tô biển số 77L2-255.35 (nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Jupiter, màu sơn: xanh đen) của anh Trương Minh P dựng trên vỉa hè, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp.

K lén lút dắt trộm xe mô tô biển số 77L2-255.35 đi đến đoạn ngã ba Nguyễn Hoàng – Lê Thanh Nghị thì dừng lại, mở cốp xe để tìm đồ mở khóa thì thấy một chùm chìa khóa xe. K sử dụng chùm chìa khóa này mở được khóa xe, điều khiển xe đi đến đường Quốc lộ 1D, đoạn gần Bệnh viện Phong - Da liễu trung ương Quy Hòa (thuộc phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy nhơn). K dùng cờ lê trong cốp xe tháo bỏ biển số ném qua hàng rào bên đường (Cơ quan điều tra đã đi xác minh tìm kiếm nhưng không thu hồi được). Sau đó, K điều khiển xe về ở tại lều của đìa cá tại chân cầu Hà Thanh 2, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn. Đến khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 29/11/2021, K sử dụng điện thoại di động vào mạng xã hội Facebook và thấy video ghi lại hình ảnh mình lấy trộm xe mô tô, lo sợ nên K tự mang xe mô tô 77L2-255.35 đến để lại trước nhà số 255 Lê Thanh Nghị, thành phố Quy Nhơn.

Ngày 07/02/2022, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận: 01 xe mô tô 77L2-255.35 (nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Jupiter, màu sơn: xanh đen), có trị giá: 10.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn đã tạm giữ và trả lại: 01 xe mô tô 77L2-255.35 (nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Jupiter, màu sơn: xanh đen), cho chủ sở hữu là anh Trương Minh P. Đã đưa vào hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 02 video ghi lại hình ảnh Trần Văn K dắt xe mô tô 77L2-255.35 đi trên đường.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Minh P đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì.

Bản Cáo trạng số 61/CT - VKSQN ngày 25 tháng 4 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Trần Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Văn K có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 77L2-255.35 (nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Jupiter, màu sơn: xanh đen) của bị hại trị giá 10.000.000 đồng nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng là đối tượng nghiện ma túy, có 05 tiền sự nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Bị cáo khai báo thành khẩn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.

Về dân sự: Bị hại Trương Minh P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm.

Đề nghị lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 02 video ghi lại hình ảnh Trần Văn K dắt xe mô tô 77L2-255.35 đi trên đường.

Bị cáo không tự bào chữa.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Trần Văn K có đầy đủ sức khỏe, có trình độ học vấn, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. Nhưng vào khoảng 13h00 ngày 26/11/2021, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 77L2-255.35 (nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Jupiter, màu sơn: xanh đen) của anh Trương Minh P dựng trên vỉa hè, không có người trông coi trước nhà số 255 Lê Thanh Nghị, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 10.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương, bản thân bị cáo còn là đối tượng nghiện ma túy nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì: mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án nhưng có 05 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự tại khu dân cư, xâm hại sức khỏe người khác và cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Tuy nhiên, tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX xem xét xử phạt bị cáo một mức án phù hợp để bị cáo an tâm cải tạo, trở thành công dân tốt.

Bồi thường thiệt hại: bị hại Trương Minh P đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét.

Về xử lý vật chứng: lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 02 video ghi lại hình ảnh Trần Văn Kiệt dắt xe mô tô 77L2-255.35 đi trên đường.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn K 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng: lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 02 video ghi lại hình ảnh Trần Văn K dắt xe mô tô 77L2-255.35 đi trên đường.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ