- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H1 phạm “Tội cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Bản án số: 127/2022/HS-ST Ngày: 19/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Huệ, Hiệu trưởng Trường tiểu học Hòa Bình
2. Ông Nguyễn Quốc Cường, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường
Nguyễn Thái Bình, Quận 1.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Anh – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2022/TLST-HS ngày 30/8/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 779/2022/QĐXXST-HS ngày 07/9/2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc H1; sinh ngày: 06/4/2005; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 18/2 TĐ, phường K, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: (không rõ); và bà: Nguyễn Ngọc Tr; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 22/6/2022, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 35/2022/HS-ST, chưa thi hành án phạt tù); bị bắt, tạm giam ngày: 08/4/2022. (Có mặt).
- Người đại diện của bị cáo: Bà Nguyễn Ngọc Tr (mẹ bị cáo), sinh năm 1983, địa chỉ: 148/8 TĐ, phường M, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Võ Thị Tuyết H2, Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Bị hại: Chị Lê Nguyễn Huyền Ng, sinh năm 2003, địa chỉ: 217/9/23 BĐT, Phường P, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Em Trần Ngọc Kim Q, sinh năm 2007. Có người đại diện hợp pháp: Bà Trần Ngọc Hải H3, sinh năm 1989, cùng địa chỉ: 12/22 TXS, phường Y, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)
2 Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1999, địa chỉ: 82/20 VVK, Phường Q, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 2003. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 01/4/2022, Nguyễn Quốc H1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 59C1-879.37 chở em Trần Ngọc Kim Q (sinh năm 2017) đi uống nước. Khi đến giao lộ Hai Bà Trưng, Lê Thánh Tôn phường Bến Nghé, Quận 1, H1 phát hiện anh Nguyễn Tấn T điều khiển xe mô tô biển số 77C1-662.03 chở chị Lê Nguyễn Huyền Ng, chị Ng đeo 01 túi xách màu đen bên vai phải nên H1 nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. H1 điều khiển xe áp sát từ phía sau bên phải rồi dùng tay trái giật túi xách của chị Ng sau đó tăng ga tẩu thoát. H1 để túi xách chiếm đoạt được ở phía trước sát chỗ H1 ngồi sau đó đưa ra sau cho em Q cầm rồi điều khiển xe đến khu A công viên 23/9, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1. H1 nói Q ngồi đợi ở quán nước còn H1 vào công viên lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 128GB màu xanh bên trong trong túi xách bỏ vào túi quần H1 đang mặc rồi vứt túi xách, chứng minh nhân dân, thẻ Ngân hàng của chị Ng ở bãi cỏ. H1 đem điện thoại di động đến hẻm 186 Bùi Viện, Quận 1 bán cho H4 (chưa rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng rồi quay lại quán nước chở em Q về nhà. H1 thay biển số 49H1-050.51 vào xe mô tô rồi vứt bỏ biển số 59C1-879.37. Đối với số tiền 2.000.000 đồng, H1 đã tiêu xài hết. (BL: 141, 142)
Theo Kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS ngày 28/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận:
- 01 điện thoại di động Iphone 11 128GB màu xanh trị giá 12.000.000 đồng.
- 01 túi xách màu đen trị giá 235.000 đồng. (BL: 38-41)
Quá trình điều tra, Nguyễn Quốc H1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của H1 phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản thực nghiệm điều tra; các biên bản đối chất; biên bản kiểm tra camera; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; xác nhận của H1 đối với hình ảnh camera, vật chứng; lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập. (BL: 42-157)
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 49H1-050.51, số khung: ELHHC09023Y056511, số máy: không; qua giám định số khung không thay đổi, số máy bị mài mất số, không xác định được số nguyên thủy (theo Kết luận giám định số 5594/KL-KTHS ngày 05/5/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an TP. Hồ Chí Minh), qua xác minh không có trong dữ liệu vật chứng. Qua xác minh biển số 49H1-050.51 là của xe mô tô hiệu Guida do ông K’H đứng tên chủ sở hữu, ông H khai đã bán xe mô tô cho 01 cửa hàng xe máy ở tỉnh Lâm Đồng (ông K’H khai không nhớ địa chỉ) vào năm 2019. H1 khai mua xe mô tô trên gắn biển số 59C1-879.37 của 01 đối tượng là thanh niên (chưa rõ lai lịch) với giá 800.000 đồng (không có giấy tờ mua bán) và mua biển số 49H1-050.51 của 01 đối tượng là thanh niên (chưa rõ lai lịch) ở Quận 1 (H1 khai không nhớ địa chỉ) với giá 200.000 đồng. Qua xác minh biển số 59C1879.37 là của xe mô tô hiệu Honda Wave RS, số khung: RLHJ04302AY008344, số máy: JC43E-0809255 do anh Nguyễn Chí C đứng tên chủ sở hữu; anh C khai bị mất xe mô tô vào tháng 3/2022 tại Quận 5. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên nH1 chưa có kết quả. (BL: 42-54)
- 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.
- 01 (một) đôi dép màu đen quai vàng.
- 01 (một) quần jean ống dài.
Thu giữ của em Trần Ngọc Kim Q:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A30, số Imeil: 353976314400742
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Nguyễn Huyền Ng không có yêu cầu gì về dân sự. (BL: 123)
Đối với Trần Ngọc Kim Q, qua điều tra chưa đủ cơ sở xác định Q cùng H1 thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 không xử lý hình sự đối với Q. Đối với đối tượng tên H4 đã mua điện thoại di động do H1 phạm tội mà có, qua điều tra chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 tiếp tục xác minh làm rõ, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau. (BL: 81, 82)
[2] Bản Cáo trạng số 125/CT-VKSQ1 ngày 29/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Nguyễn Quốc H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Mẹ bị cáo bà Nguyễn Ngọc Tr trình bày do cuộc sống nên lơ là đối với bị cáo nên bị cáo phạm tội bà không biết.
[3] Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Quốc H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng điểm điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, và tình tiết giảm nhẹ là người chưa thành niên phạm tội, thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; phần dân sự bị hại không có yêu cầu bồi thường; vật chứng 01 xe mô tô hiệu Honda Wave gắn biển số 49H1-050.51, số khung: ELHHC09023Y056511, số máy: không; xe không xác định được chủ sở hữu, nên cần thông báo công khai tìm chủ sở hữu, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu xe sung quỹ nhà nước, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép màu đen quai vàng, 01 quần jean ống dài thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30 thu giữ của Trần Ngọc Kim Q không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho Trần Ngọc Kim Q.
Luật sư bà Võ Thị Tuyết H2 bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, lẽ ra đang phải đi học nhưng do hoàn cảnh khó khăn, cha bỏ, chỉ học đến lớp 6. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101 Bộ luật hình sự, cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm làm lại cuộc đời.
Bị cáo Nguyễn Quốc H1, bà Nguyễn Ngọc Tr không tranh luận, bào chữa.
Bị cáo Nguyễn Quốc H1 nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện, luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quốc H1 với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Quốc H1 đã có hành vi cướp giật tài sản của bị hại chị Lê Nguyễn Huyền Ng. Tài sản chiếm đoạt là 01 túi xách màu đen bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 11 128GB màu xanh, tổng trị giá tài sản là 12.235.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Quốc H1 đã phạm vào “Tội cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ vụ lợi, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật của Nhà nước. Tính nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện còn thể hiện ở việc bị cáo sử dụng thủ đoạn nguy hiểm, sử dụng xe phân khối lớn cướp giật tài sản là đây là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Về nhân thân của bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này đã bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên chưa xét xử nên không xem là tiền án nhưng cũng cần xem xét, đánh giá tính chất tội phạm. Vì vậy cần xử lý bị cáo với mức án nghiêm phù hợp với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa và áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo khi phạm tội, bị cáo ở độ tuổi 16 tuổi 11 tháng 25 ngày, là người chưa đủ 18 tuổi phạm tội, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt phụ bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Bị hại chị Lê Nguyễn Huyền Ng không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave gắn biển số 49H1-050.51, số khung: ELHHC09023Y056511, số máy: không; qua giám định số khung không thay đổi, số máy bị mài mất số, không xác định được số nguyên thủy. Bị cáo khai mua xe với giá 800.000 đồng, xe không giấy tờ. Khi mua, xe gắn biển số 59C1-879.37 (bị cáo đã vứt bỏ) trùng với biển số xe anh Nguyễn Chí C đứng tên chủ sở hữu, nhưng số khung không phải là xe của anh C. Xét thấy xe không xác định được chủ sở hữu, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên cần thông báo công khai tìm chủ sở hữu, sau 01 năm kể từ ngày thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu xe để nộp Ng sách nhà nước. Đối với biển số 49H1-050.51 bị cáo mua để gắn trên xe, không đúng với xe đăng ký nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, 01 (một) đôi dép màu đen quai vàng, 01 (một) quần jean ống dài thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A30, số Imei 1: 353976314400742, Imei 2: 3539763144007421 thu giữ của Trần Ngọc Kim Q không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho Trần Ngọc Kim Q.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H1 phạm “Tội cướp giật tài sản”.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 09 (Chín) tháng tù tại Bản án số 35/2022/HS-ST ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Quốc H1 phải chấp hành hình phạt chung là 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Quốc H1 để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
+ Thông báo công khai tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô hiệu Honda Wave số khung: ELHHC09023Y056511, số máy: không. Sau 01 năm kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu chiếc xe nộp Ng sách nhà nước.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 49H1-050.51, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép màu đen quai vàng, 01 quần jean ống dài.
+ Trả cho Trần Ngọc Kim Q: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30, số Imei 1: 353976314400742, Imei 2: 3539763144007421.
(Phiếu nhập kho vật chứng số 95/22-PNK ngày 24/5/2022 và số 10/22-PNK ngày 15/6/2022 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Người đại diện, Người bào chữa cho BC; Bị hại, Người có QLNVLQ; - VKSND, CA, Chi cục THA Quận 1; - PC27; - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Trung Tuấn |