- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Ngọc S phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2022/HS-ST Ngày: 21-10-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Di
2. Bà Huỳnh Ngọc Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên Lộc- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2022/TLST-HS ngày 01-10-2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐXXST-HS ngày 10-10-2022 đối với bị cáo:
Bùi Ngọc S, sinh năm 1997 tại Kiên Giang; HKTT: Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Duy S, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1956; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27-7-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, có mặt.
- Bị hại: Anh Dương Nam D, sinh năm 1998; địa chỉ: tổ 14, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Phạm Thị H, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ 13, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)
+ Vũ Đức T, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ 10, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 11-3-2019, Vũ Đức T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu điều khiển xe mô tô BKS 72K1-444.38 chở theo Bùi Ngọc S, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Ấp l, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến chơi game tại Cơ sở kinh doanh dịch vụ Internet “Liên Minh Hội Quán” thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Khi T và S chơi được một lúc thì có Nguyễn Quốc P (chưa rõ nhân thân lai lịch, là bạn của S) cũng đến chơi cùng. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 12-3-2019, S, T và P nghỉ chơi và cùng nhau ra về. Do Cơ sở kinh doanh lúc này đã khóa cửa nên S đi đến vị trí anh Dương Nam D, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (là bảo vệ của tiệm) đang nằm ngủ để gọi anh D dậy mở cửa. Lúc này, S phát hiện cách nơi anh D đang nằm ngủ có chiếc ghế nhựa và trên mặt ghế anh D có để chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đen nên S nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. S thấy anh D ngủ say, T và Phú đi lấy xe không ai để ý, S liền dùng tay phải lấy chiếc điện thoại trên và cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải của S đang mặc rồi S gọi anh D dậy để mở cửa cho S cùng T và Phú ra về. Sau đó, T chở S đi về đến nhà T tại ấp L, xã P, huyện Long Điền, S lấy chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được ra xem thì T phát hiện nên hỏi S ở đâu mà có, S nói do S chiếm đoạt được của anh D, T yêu cầu S đem trả lại cho anh D nhưng S không trả. Riêng P không đi cùng với T và S về nhà T mà P chạy đi đâu không rõ.
Sau đó, S đem chiếc điện thoại trên đến cửa hàng mua bán điện thoại “Văn Thanh” thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu do anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm chủ để cầm cố chiếc điện thoại trên với số tiền 1.200.000 đồng.
Đến khoảng 03 giờ 40 phút ngày 12-3-2019, anh D thức dậy phát hiện bị mất chiếc điện thoại trên, sau khi kiểm tra camera của tiệm Internet biết được S là người chiếm đoạt chiếc điện thoại của mình nên đã đến cơ quan Công an trình báo. Sau khi biết được hành vi của S bị phát hiện nên S đã chuộc lại chiếc điện thoại trên và đưa cho bà Phạm Thị H, sinh năm 1956; nơi cư trú: Tổ 13, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (là mẹ ruột của S) đem trả lại cho anh D, riêng S đã bỏ trốn đến ngày 27-7- 2022, cơ quan Công an làm việc được với S và S đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐG ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Hội đồng định giá huyện L kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, màu tím đen, số Imei 1; 861570047090311, số Imei 2: 8615700470900303 (đã qua sử dụng) trị giá 2.632.000 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, màu tím đen, số Imei 1; 861570047090311, số Imei 2: 8615700470900303 (đã qua sử dụng) do mẹ của S là bà Phạm Thị H đã trả lại cho anh D vào ngày 24-6-2019.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh Dương Nam D không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSLĐ ngày 29-9-2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Bùi Ngọc S về tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản”. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 04 đến 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh Dương Nam D không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến gì về luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra
- Công an huyện L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Vào khoảng giờ 03 giờ 30 phút ngày 12-3-2019, Bùi Ngọc S có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu tím đen của anh Dương Nam D để trên ghế nhựa trong Cơ sở kinh doanh dịch vụ Internet “Liên Minh Hội Quán” thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với giá trị đã định là 2.632.000 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Vì vậy, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
3 Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, gây bất an trong sự luận và mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, thích hưởng thụ nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
4 Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyên khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Nên áp dụng điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
5 Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản anh D không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
6 Về xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu tím đen đã trả lại cho anh D nên HĐXX không xem xét giải quyết.
7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc S 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-7-2022.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21-10-2022) hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật (đối với đương sự vắng mặt), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - VKSND huyện L; - Nhà tạm giữ Công an huyện L; - Công an huyện L; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PC10 và PV06 Công an tỉnh BR-VT; - Chi Cục THA dân sự huyện L; - Bị cáo, bị hại; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Di Huỳnh Ngọc Dung | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bình THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bình |