vanban.org

Bản án 127/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hiền T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thị Hiền T 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính kể từ ngày tuyên án (ngày 06/12/2022). Giao bị cáo Nguyễn Thị Hiền T cho Ủy ban nhân xã Hàm Trí, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nơi bị cáo Nguyễn Thị Hiền T cư trú để giám sát… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HIEN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hiền T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2022/HS-ST.
Ngày: 06-12-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Minh.

2. Bà Trần Thị Kim T.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2022/HSST ngày 04/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2022/QĐXXST-HS ngày 21/11/2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ HIỀN T – Sinh năm 1988; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Thôn 1, xã H1, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Cha: Nguyễn Thọ V, sinh năm 1962; Mẹ: Hồ Thị Huyền A, sinh năm 1957. Cả hai hiện cùng ở Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Chồng: Nguyễn Minh T, sinh năm 1989 (đã chết); Chồng: Lê Thanh T, sinh năm 1989 (chưa đăng ký kết hôn); Con: 01 người con, sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Ngày 18/10/2022, bị Công an huyện Hàm Thuận Bắc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp điện thoại vào ngày 22/9/2022, hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng.

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa pH và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Lê Thị Kim H - Sinh năm 1993. Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Tạm trú: Khu phố 1, thị trấn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Khắc D – Sinh năm 1983(vắng mặt). Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 04/8/2022, Nguyễn Thị Hiền T, sinh năm 1988, ở thôn 1, xã H1, huyện Hàm Thuận Bắc điều khiển xe mô tô, biển số 86B3 – 017.10 (xe do Nguyễn Khắc D anh ruột T làm chủ sơ hữu) đi đến chợ Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc để mua đồ. Đến nơi, T gửi xe rồi đi bộ tới quầy tạp hóa trong chợ của bà Lê Thị Mỹ Kim H, sinh năm 1993, trú tại thôn L, xã T, huyện Hàm Thuận Nam (hiện ở khu phố 1, thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc) để mua nhang và dầu gội đầu. Trong lúc mua hàng, T nhìn thấy trên kệ hàng của quầy tạp hóa có để một chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F11 pro màu tím – xanh – đen, có ốp lưng màu đen, bên trong ốp lưng có 01 thẻ căn cước Công dân mang tên Lê Thị Mỹ Kim H, quan sát thấy không có người trông coi nên T nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại này để bán lấy tiền mua thuốc cho chồng (chồng bị u tim theo lời khai của T). T lén lút chồm người lên kệ thò tay lấy chiếc điện thoại di động trên bỏ vào túi quần bên phải, sau đó trả tiền mua hàng cho bà H rồi ra lấy xe mô tô, biển số 86B3 – 017.10 đi về nhà cất giấu chiếc điện thoại vừa trộm được vào trong gối ở trong phòng ngủ của T. Sau khi bán hàng cho T xong, khoảng 05 phút sau bà H phát hiện điện thoại của mình bị mất, nên kiểm tra camera thì phát hiện có người phụ nữ mặc áo khoác màu vàng mua nhang với dầu gội đầu lấy trộm điện thoại. Bà H đưa đoạn clip trên lên mạng xã hội Facebook để xem có ai nhận ra được đối tượng lấy trộm chiếc điện thoại trên không thì có bà Nhị (bạn của bà H) nhận diện được người lấy trộm điện thoại trên là T. Sau đó, ông T (chồng bà H) cùng bà N tìm đến nhà T ở thôn 1, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc hỏi T "Trong lúc mua nhang có lấy trộm điện thoại hay không?", T không nói gì, bà Nhị nói tiếp "camera trong chợ quay lại thấy chị lấy", nghe vậy T đi vào nhà lấy điện thoại vừa trộm được ra rồi cùng T đi đến chợ Ma Lâm đưa lại chiếc điện thoại trên cho bà H. Sau khi nhận được tin báo, Công an thị trấn Ma Lâm mời T về trụ sở Công an để làm việc. Tại đây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO F11 Pro, màu xanh-tím-đen, màn hình 6,5 inch, Ram 6GB, Rom 128 GB, kiểu máy CPH1969 có ốp nhựa màu đen đã bạc màu, trên ốp lưng có miếng treo dán kích thước (3,8 x 5,4) và 01 xe mô tô, biển số 86B3-017.10 cho Công an để xử lý theo quy định.

Ngoài lần phạm tội trên, quá trình điều tra xác định, ngày 22/9/2022, Nguyễn Thị Hiền T lợi dụng sự sơ hở, tiếp tục lén lút lấy trộm 01 điện thoại hiệu Redmi note 7, ram 64GB, số IMEI 1: 860941041016605, số IMEI 2: 860941041616602 của ông Thông Đức T, sinh năm 1993, ở thôn 3, thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc (trị giá tài sản qua định giá là 1.369.000 đồng), hành vi trộm cắp tài sản lần này của T đã được thụ lý tin báo và được Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số số 54 ngày 06/10/2022 đồng thời Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về lần trộm cắp này theo đúng quy định.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL – HĐĐGTS ngày 15/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Bắc kết luận:

- 01 điện thoại di động:

+ Nhãn hiệu OPPOO F11 pro, màu tím-xanh-đen, màn hình 6,5 inch, Ram 6GB, Rom 128 GB, kiểu máy CPH1969 đã qua sử dụng.

+ Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 9.500.000 đ/cái.

+ Giá trị sử dụng còn lại là 80%.

Thành tiền: 9.500.0000đ x 80% = 7.600.000đ.

- 01 Ốp lưng điện thoại đã qua sử dụng:

+ Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 50.000 đ/cái

+ Giá trị sử dụng còn lại là 80%.

Thành tiền: 50.0000đ x 80% = 40.000đ.

Tổng giá trị định giá tài sản là : 7.640.000đ (bảy triệu, sáu trăm năm bốn mươi ngàn đồng)

Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động, hiệu OPPO F11 Pro, màu tím – xanh – đen, màn hình 6,5 inch, Ram 6GB, Rom 128 GB, kiểu máy CPH1969 đã qua sử dụng; 01 ốp lưng điện thoại đã qua sử dụng; 01 (Một) xe mô tô, biển số 86B3 – 017.10 (xe do Nguyễn Khắc D anh ruột T làm chủ sơ hữu cho T mượn đi lại không biết T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội). Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho các chủ sở hữu là bà Lê Thị Mỹ Kim H và ông Nguyễn Khắc D theo đúng quy định.

Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ đoạn video clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Hiền T trộm cắp chuyển cùng hồ sơ vụ án được chuyển cùng hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Bà Lê Thị Mỹ Kim H sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKSHTB ngày 04/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố Nguyễn Thị Hiền T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Thị Hiền T đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự. Phạt Nguyễn Thị Hiền T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Hiền T cho Ủy ban nhân xã Hàm Trí, nơi bị cáo Nguyễn Thị Hiền T cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Hiền T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Lê Thị Mỹ Kim H sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì, nên không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Thị Hiền T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thời gian chăm sóc, nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Hiền T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa , bị cáo Nguyễn Thị Hiền T khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/8/2022, tại quầy tạm hóa của bà Lê Thị Mỹ Kim H trong chợ Ma Lâm, ở khu phố 1, thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc. Nguyễn Thị Hiền T trong lúc mua hàng của chị H đã lợi dụng sự sơ hở lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại OPPO F11 Pro, màu tím – xanh – đen, màn hình 6,5 inch, Ram 6GB, Rom 128 GB, kiểu máy CPH1969, có ốp lưng màu đen đã qua sử dụng của bà H đang để trên kệ bán hàng. Trị giá tài sản chiếc điện thoại bị lấy trộm qua định giá là 7.640.000đ (Bảy triệu, sáu trăm năm bốn mươi ngàn đồng).

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị Hiền T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Xuất phát từ bản chất tham lam, ham chơi, lười lao động, nên bị cáo T đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bà H, lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị là 7.640.000đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa pH là nguy hiểm cho xã hội, nên cần thiết phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản được thu hồi trả cho bị hại. Ngoài ra bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[6] Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp. Hội đồng xét xử xét bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và hiện nay bị cáo T đang nuôi con nhỏ, nên cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa pH nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục là đủ.

[7] Đối với Nguyễn Khắc D là chủ sở hữu xe mô tô, biển số 86B3 – 017.10 đã cho T mượn để đi lại, ông D không biết T sử dụng xe này để đi trộm cắp tài sản và cũng không giúp sức gì cho T trong việc trộm cắp điện thoại trên nên không đồng phạm với T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại: 01 (một) điện thoại di động, hiệu OPPO F11 Pro, màu tím – xanh – đen, màn hình 6,5 inch, Ram 6GB, Rom 128 GB, kiểu máy CPH1969 đã qua sử dụng; 01 ốp lưng điện thoại đã qua sử dụng; 01 (Một) xe mô tô, biển số 86B3 – 017.10 (xe do Nguyễn Khắc D anh ruột T làm chủ sơ hữu cho T mượn đi lại không biết T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội) cho các chủ sở hữu là bà Lê Thị Mỹ Kim H và ông Nguyễn Khắc D là hoàn toàn đúng quy định.

Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ đoạn video clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Hiền T trộm cắp chuyển cùng hồ sơ vụ án được tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

Bà H đã nhận lại tài sản, có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bồi thường gì khác, nên không xem xét giải quyết.

[9] Về những vấn đề khác:

Bị cáo Nguyễn Thị Hiền T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điểm i, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hiền T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thị Hiền T 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính kể từ ngày tuyên án (ngày 06/12/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Hiền T cho Ủy ban nhân xã Hàm Trí, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nơi bị cáo Nguyễn Thị Hiền T cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Hiền T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ đoạn video clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị Hiền T trộm cắp được chuyển cùng hồ sơ vụ án tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Hiền T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(ngày 06/12/2022). Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại chính quyền địa pH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ