- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Yến Nh - Lê Hùng S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Yến N được ly hôn với anh Lê Hùng S.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23/12/2022 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Ông Lương Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 472/2022/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Yến N, sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng
mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Lê Hùng S, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lê Thị Yến N trình bày: Chị N và anh Lê Hùng S chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/10/2010, tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu. Anh chị có 02 con chung: Cháu Lê Bông Y, sinh ngày 27/03/2012 và cháu Lê Đăng K, sinh ngày 27/4/2019. Trong thời gian chung sống vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do anh S thường xuyên uống rượu không chăm lo kinh tế gia đình và không chăm lo đời sống vợ chồng, nên chị N và anh S sống ly thân đến nay đã được một năm. Do đó, chị N nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh S không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S. Về con chung: Do hai cháu Y và cháu K từ khi sinh ra cho đến nay hai cháu sống với chị nên khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con mà không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Hùng S dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh S.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh S. Về con chung: Cháu Lê Bông Y, sinh ngày 27/03/2012 và cháu Lê Đăng Khoa, sinh ngày 27/4/2019 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Anh S không phải chấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung do chị N không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: chị N và anh Sơn tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/10/2010 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị N khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Sơn và giải quyết về con chung đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh Sơn hiện đang cư trú tại ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã R theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: chị N là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; anh S là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
Về hôn nhân:
Sau khi kết hôn hợp pháp, chị N và anh S sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là anh S thường xuyên uống rượu và không chăm lo kinh tế đời sống vợ chồng mặc dù đã được chị N khuyên can nhưng anh S vẫn không thay đổi, do đó anh chị đã sống ly thân được một năm nay. chị N xác định hiện nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị N đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Sơn.
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải để chị N và anh S đoàn tụ nhưng chị N cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh S mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh S. Xét thấy, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị N cương quyết xin ly hôn. Mặc khác giữa chị N và anh S cũng sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị N và anh S có 02 con chung là cháu Lê Bông Y, sinh ngày 27/03/2012 và cháu Lê Đăng K, sinh ngày 27/4/2019. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung mà không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ biên bản xác minh Trưởng ấp A, xã T, thị xã R xác định hiện tại cháu Y và cháu K sống cùng chị N, cả hai cháu được chị N cho đi học đầy đủ và hai cháu phát triễn bình thường. Cũng tại biên bản ghi nhân ý kiến của cháu Lê Bông Y, cháu Y xác định khi cha mẹ ly hôn thì cháu muốn sống với mẹ, vì từ trước đến nay cháu sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao cháu Y và cháu K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật. Anh Sơn không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị N phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Yến N được ly hôn với anh Lê Hùng S.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung là cháu Lê Bông Y, sinh ngày 27/03/2012 và cháu Lê Đăng K, sinh ngày 27/4/2019 cho chị Lê Thị Yến N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Y và cháu K hiện đang sống cùng chị N nên được giữ nguyên.
2.2 Anh Lê Hùng S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
2.3 Anh Lê Hùng S không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị N không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị Lê Thị Yến N có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Lê Thị Yến N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0004486, ngày 02/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |