- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Nhung-Sinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Kiều N đối với anh Đinh Khắc S. Chị Trương Thị Kiều N được ly hôn với anh Đinh Khắc S.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31-10-2022 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NINH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Q.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn T.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc G.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lƣu Sử Ngọc Q - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc V - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trƣơng Thị Kiều N, S năm 1973 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số Ô2/72, ấp Trường Đ, xã Trường Đ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Anh Đinh Khắc S, S năm 1976 (vắng mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số C2/6, ấp Trường C, xã Trường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 08/7/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị Kiều N trình bày:
Về hôn nhân: Chị N và anh S chung sống với nhau từ năm 2002 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 20/01/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Trường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau phát S mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, anh S thường xuyên uống rượu nên hai vợ chồng cải vã nhau nhiều lần nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị N yêu cầu được ly hôn với anh S.
Về con chung: Có 01 con tên Đinh Trương Khánh D, S năm 2002. Hiện cháu D đã thành niên, chị N không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn: Anh Đinh Khắc S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh S không đến Toà án để dự phiên hoà giải và dự phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị N, anh S là phù hợp theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị N và anh S chung sống với nhau từ năm 2002 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì vợ chồng phát S mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính tình, đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị N yêu cầu được ly hôn với anh S. Đối với yêu cầu ly hôn của chị N nhưng anh S không đến Tòa án để giải quyết mâu thuẫn là không có thiện chí hàn gắn. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ.
Về con chung: Cháu D đã thành niên, chị N không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
Từ phân tích trên, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Kiều N đối với anh Đinh Khắc S.
Tính án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Anh Đinh Khắc S là bị đơn có nơi cư trú tại nhà số C2/6, ấp Trường C, xã Trường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ cho đến khi xét xử, nguyên đơn là chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh S vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với chị N, anh S là đúng với quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh S chung sống với nhau từ năm 2002 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu, nhưng đến năm 2018 thì phát S mâu thuẫn do tính tình hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm, đã ly thân từ năm 2018, nay chị N cương quyết ly hôn với anh S. Xét thấy, chị N và anh S không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp.
Về con chung: Có 01 con tên Đinh Trương Khánh D, S năm 2002, cháu Duy đã thành niên, chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành là hợp lý cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Kiều N đối với anh Đinh Khắc S. Chị Trương Thị Kiều N được ly hôn với anh Đinh Khắc S.
2. Về con chung: Cháu Đinh Trương Khánh D, S năm 2002 đã thành niên, chị N không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0020884 ngày 19/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận chị N đã nộp xong tiền án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Hòa Thành; - CC.THADS thị xã Hòa Thành; - UBND xã Trường Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. |