- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH KHÁNH HÒA ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2021/HS-ST Ngày 16-6-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Bạn
bà Nguyễn Thị Tỉnh
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
N - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - Khánh Hòa tham gia
phiên tòa: ông Lê Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm
công khai vụ án hình sự thụ lý số 163/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6
năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T - sinh năm 1989 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân khẩu
thường trú: thôn V - xã N - thị xã H - Khánh Hòa; Không có nơi ở xác định; Nghề
nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Nguyễn Thị Kim L (1962); Tiền sự, tiền án:
không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2021; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Trung tâm hội nghị và nhà khách tỉnh Khánh Hòa
Trú tại: 46 đường T - phường L - tp. N - Khánh Hòa.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Huỳnh Văn H - sinh năm 1976 -
Phó giám đốc phụ trách; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 20/01/2021, Nguyễn Văn T điều khiển xe đạp
hiệu Martin màu xanh đi từ khu vực xã V đến đường T - phường L - tp. N xem ai
sơ hở gì thì trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua Trung tâm hội nghị và nhà khách
tỉnh Khánh Hòa ở 46 đường T (mặt đường N) thì T phát hiện một cục nóng máy lạnh hiệu Panasonic - CU/CS-N18VKH-8, màu trắng của Trung tâm hội nghị không bắt ốc chốt cố định và không có người trông giữ. T trèo lên dùng tay nhấc bổng cục nóng máy lạnh thì bị rơi xuống đất, dẫn đến phần lưới bảo vệ cánh quạt bị bung rời khỏi vị trí ban đầu. T trèo xuống khiêng cục nóng bỏ lên xe đạp rồi chở đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến trước nhà số 90 đường T thì T bị Tổ tuần tra Công an phường L phối hợp với Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động phát hiện và đưa về trụ sở Công an làm việc. Tại cơ quan Công an, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 28/01/2021 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: một cục nóng máy lạnh hiệu Panasonic - CU/CS-N18VKH-8 có giá trị là 6.519.000đ.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS-NT ngày 10/5/2021, Viện kiểm sát nhân
dân thành phố N đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Khánh
Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi bị hại có yêu cầu. Về vật chứng: đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe đạp Martin màu xanh. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại Trung tâm hội nghị và
nhà khách tỉnh Khánh Hòa có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và
các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định ngày 20/01/2021, bị cáo T đã lén lút lấy của Trung tâm hội nghị và nhà khách tỉnh Khánh Hòa một cục nóng máy lạnh hiệu Panasonic trị giá 6.519.000đ. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình
hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản
của cá nhân, tổ chức được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị
cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng
ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa
ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền sự tiền án,
tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy
định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình
phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước
mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Nếu sau này
bị hại có yêu cầu sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
[6] Về vật chứng: Xe đạp Martin màu xanh là tài sản riêng của bị cáo T nên
cần trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản”. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 20/01/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Tách phần dân sự giữa bị cáo Nguyễn Văn T với bị
hại Trung tâm hội nghị và nhà khách tỉnh Khánh Hòa thành vụ kiện dân sự khác
khi Trung tâm hội nghị và nhà khách tỉnh Khánh Hòa có yêu cầu.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố
tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) xe đạp Martin màu xanh.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày
11/6/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tp. N với Chi cục thi hành án
dân sự tp. N).
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn T nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự
sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tp. N; - Công an tp. N; - Chi cục thi hành án dân sự tp. N; - Bị cáo; bị hại; - Lưu THA hình sự, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Mai Phƣơng |