vanban.org

Bản án 127/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hoàng H, Nguyễn Quốc P phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

2/ Về hình phạt: 1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hoàng H 09 (chín) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc P và Huỳnh Hoàng H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hoàng H, Nguyễn Quốc P phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2021/HS-ST
Ngày: 30-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Nữ.

2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph T tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2021/TLST-HS ngày 24/5/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2021/QĐXXST-HS ngày 16/6/2021 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Huỳnh Hoàng H, sinh năm 1984, tại Bình Dương; Nơi ĐKHKTT: Số A, tổ B, khu phố C, phường Phú C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghi p: Không; Trình đ học v n: 02/12; Dân t c: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Huỳnh Công Ch (đã chết) và bà Hứa Thị Ngọc B; Vợ tên Lê Thị H; có 04 con: lớn nh t sinh năm 2003, nhỏ nh t sinh năm 2015; Tiền án; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 29/01/2021 và tạm giam cho đến nay. Có mặt.

2/ Họ và tên: Nguyễn Quốc P, sinh năm 1996, tại Bình Dương; Nơi ĐKHKTT: Số A, tổ B, khu phố C, phường Phú C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghi p: Không; Trình đ học v n: 04/12; Dân t c: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Vũ Thị D; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 23/4/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về t i Tr m cắp tài sản theo Bản án số 43/2020/HS-ST. Ngày 02/5/2020, ch p hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 29/01/2021 và tạm giam cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Hồ T n T, sinh năm 1999; H khẩu thường trú: Thôn A, xã Pơng D, huy n Krông B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hi n nay: Số A, khu phố B, phường Phú L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc P và Huỳnh Hoàng H có mối quan h bạn bè và đều là đối tượng nghi n hút. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/01/2021, P và H cùng chơi game tại quán game không tên thu c phường Phú Mỹ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do hết tiền tiêu xài nên H rủ P đi l y tr m tài sản bán l y tiền tiêu xài thì P đồng ý. Thực hi n ý định, H mượn xe mô tô hi u Honda Wave, màu đỏ (không rõ biển số) của người bạn tên Cường (hi n chưa xác định được họ tên và địa chỉ) rồi giao cho P điều khiển chở H đi tìm tài sản l y tr m. Khi P và H đi đến quán cà phê không tên của khu nhà trọ, tại số 85/7, khu phố 1, phường Phú Lợi, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì cả hai quan sát th y quán cà phê vắng người, bên trong quán có để 01 (m t) máy tính hi u Sony Vaio core i5, màu trắng của anh Hồ T n T nên nảy sinh ý định l y tr m máy tính trên. Lúc này, P dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới, còn H đi vào bên trong l y tr m máy tính của anh Tú, rồi cả hai cùng tẩu thoát. Sau đó, P điều khiển xe chở H đến khu vực chùa Tây Tạng, đường Thích Quảng Đức, phường Chánh Nghĩa, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì H xuống xe. P đem máy tính đến khu vực xã Bình Mỹ, huy n Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho m t người nam tên H2 (không rõ họ tên và địa chỉ) với giá 3.000.000 (Ba tri u) đồng, P đem về chia cho H 1.500.000 (M t tri u năm trăm nghìn) đồng và cả hai tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 21 giờ 30 ngày 29/01/2021, khi P điều khiển xe mô tô biển số 63K4-9861 chở H lưu thông trên đường Huỳnh Văn Ngh , thu c khu phố 6, phường Phú Lợi, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì có hành vi vi phạm giao thông nên Công an phường Phú Lợi yêu cầu P và H về trụ sở làm vi c. Tại đây, P và H đã tự thú khai nhận về hành vi l y tr m 01 (m t) máy tính hi u Sony Vaio core i5, màu trắng của anh Hồ T n T vào ngày 07/01/2021 nên Công an phường Phú Lợi lập biên bản tiếp nhận vi c tự thú và chuyển giao hồ sơ vụ vi c cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 53/KLTS-TTHS ngày 05/02/2021 của H i đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu M t, kết luận: 01 (m t) máy tính hi u Sony Vaio core i5, màu trắng, trị giá 5.500.000 (Năm tri u năm trăm nghìn) đồng.

Đối với máy tính lap top trên, P khai nhận đã bán cho m t người nam tên H2 (không rõ họ tên, địa chỉ cư trú) và không nhớ nơi bán nên không thu hồi được. Quá trình điều tra, anh Hồ T n T yêu cầu P và H bồi thường giá trị máy tính đã chiếm đoạt với số tiền là 5.500.000 (Năm tri u năm trăm nghìn) đồng. Hi n P và H vẫn chưa bồi thường cho anh T.

Đối với người nam tên C cho H mượn xe mô tô thực hi n hành vi l y tr m máy tính và người nam tên H2 mua máy tính của P, do quá trình điều tra không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ.

Cáo trạng số 118/CT-VKS-HS ngày 19/5/2021 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Huỳnh Hoàng H và Nguyễn Quốc P về t i “Tr m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị H i đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Hoàng H mức hình phạt từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P mức hình phạt từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù.

Về trách nhi m dân sự: Các bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Hồ T n T số tiền là 5.500.000 (Năm tri u năm trăm nghìn) đồng nên đề nghị H i đồng xét xử ghi nhận.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm t i, không có ý kiến tranh luận. Đối với số tiền bị hại yêu cầu bồi thường thì các bị cáo đồng ý bồi thường. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản l y lời khai của bị hại, biên bản xác định hi n trường cùng những tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. H i đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/01/2021, các bị cáo Huỳnh Hoàng H, Nguyễn Quốc P đã thực hi n hành vi lén lút chiếm đoạt (m t) máy tính hi u Sony Vaio core i5, màu trắng, trị giá 5.500.000 (Năm tri u năm trăm nghìn) đồng của anh Hồ T n T. Hành vi mà các bị cáo thực hi n đã đủ yếu tố c u thành t i “Tr m cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo theo t i danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo v ; gây m t trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà các bị cáo đã b t ch p sự trừng phạt của pháp luật, thực hi n hành vi phạm t i với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính ch t, mức đ hành vi phạm t i của mỗi bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã h i m t thời gian nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa t i phạm chung trong xã h i.

Xét tính ch t, mức đ hành vi phạm t i, vai trò của từng bị cáo trong vụ án cho th y: Đây là vụ án đồng phạm có tính ch t đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người rủ rê, chuẩn bị phương ti n, trực tiếp thực hi n hành vi tr m cắp tài sản. Bị cáo P là người điều khiển phương ti n chở bị cáo H đi tìm tài sản l y tr m, giữ vai trò cảnh giới và là người mang tài sản tr m cắp đi tiêu thụ. Sau khi bán được tài sản, P và H cùng chia đôi số tiền từ vi c bán tài sản tr m cắp.

Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự:

Bị cáo Huỳnh Hoàng H không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Bị cáo Nguyễn Quốc P có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm t i do cố ý nên phạm vào tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Các bị cáo đã tự thú tại cơ quan điều tra khai nhận về vi c thực hi n hành vi phạm t i. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm t i của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo H phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít nghiêm trọng nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào tính ch t và mức đ tham gia thực hi n t i phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự của từng bị cáo, xét mức hình phạt mà đại di n Vi n kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Huỳnh Hoàng H là phù hợp. Đối với bị cáo Nguyễn Quốc P cần xem xét giảm nhẹ m t phần hình phạt cho bị cáo nên H i đồng xét xử xử phạt bị cáo P mức hình phạt th p hơn đề nghị của Vi n kiểm sát.

Về trách nhi m dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo H và P đồng ý bồi thường giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 5.500.000đ theo yêu cầu của bị hại anh Hồ T n T. Xét đây là sự tự nguy n của các bị cáo và phù hợp quy định pháp luật nên H i đồng xét xử ghi nhận. Bu c các bị cáo H và P phải liên đới bồi thường cho anh Tú số tiền là 5.500.000đ.

Về án phí: Các bị cáo phải n p theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 30, 136, 260, 331, 333 của B luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí, l phí Tòa án.

1/ Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hoàng H, Nguyễn Quốc P phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

2/ Về hình phạt:

2.1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hoàng H 09 (chín) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2021.

2.2/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P 09 (chín) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2021.

3/ Về trách nhi m dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587, 589 của B luật Dân sự năm 2015, bu c các bị cáo Huỳnh Hoàng H và Nguyễn Quốc P có trách nhi m liên đới bồi thường cho anh Hồ T n T số tiền là 5.500.000 (Năm tri u năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hi n nghĩa vụ thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi su t quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4/ Về án phí: Bu c mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới n p 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5/ Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ