vanban.org

Bản án 127/2021/DS-ST — Dân sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình thức: xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông ĐTN và (hoặc) ông LXP và (hoặc) bà LNHH và (hoặc) ông VML; bị đơn bà ĐTH.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH. Buộc bà ĐTH phải thanh toán 3 kỳ tiền điện của các Hóa đơn số 411306670, số 414096309, số 46629179 tổng cộng là 1.913.228 đồng (một triệu chín trăm mười ba ngàn hai trăm hai mươi tám đồng) cho Tổng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "DIEN LUC - DTH"
  • Tòa quyết gì? Về hình thức: xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông ĐTN và (hoặc) ông LXP và (hoặc) bà LNHH và (hoặc) ông VML; bị đơn bà ĐTH.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:127/2021/DS-ST
Ngày: 27-5-2021
V/v tranh chấp về hợp đồng mua
bán điện.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B - THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc PH.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Như Thủy

- Ông Nguyễn Đình Rành

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang– Thư ký Tòa án nhân dân Quận B – Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B, Tp.H: Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận B, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 510/2020/DSST ngày 21/12/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán điện” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2021/QĐST-DS ngày 07/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2021/QĐST-DS ngày 05/5/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH; địa chỉ trụ sở: 35 TĐT, phường N, Quận M, Thành phố H; Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông ĐTN, sinh năm 1967; địa chỉ: 102/3 TKC, phường T, Quận M, Thành phố H và (hoặc) ông LXP và (hoặc) bà LNHH và (hoặc) VML là người đại diện theo ủy quyền tại Giấy ủy quyền số 1361/UQ-PCTT ngày 20/10/2020 và Giấy ủy quyền số 3349/UQ-EVNHCMC ngày16/7/2020 Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Bà ĐTH, sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 56 Đường 37, phường TK, Quận B, Thành phố H; địa chỉ tạm trú: 16A Đường số 10, phường TQ, Quận B, Thành phố H (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 02/6/2014, bà ĐTH ký Giấy đề nghị mua bán điện gửi Chi nhánh Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH - Công ty Điện lực TT. Trên cơ sở đề nghị của bà H, ngày 03 tháng 6 năm 2014 Chi nhánh Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH – Công ty Điện lực TT (gọi tắt là Công ty) đã ký Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/004596, mã khách hàng: PE0500017XXXX với bà ĐTH.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà ĐTH đã thanh toán đầy đủ và đúng hạn tiền điện sử dụng hàng tháng. Tuy nhiên, từ tháng 02 năm 2019 đến nay bà ĐTH đã không thanh toán tiền điện đúng hạn theo Hợp đồng đã ký nêu trên.

Bà ĐTH nợ tiền điện quá kỳ hạn thanh toán 03 hóa đơn như sau:

1. Hóa đơn số 411306670 khách hàng sử dụng điện từ ngày 17/01/2019 đến 19/02/2019 với số tiền 1.861.651 đồng (một triệu tám trăm sáu mươi mốt ngàn sáu trăm năm mươi mốt đồng).

2. Hóa đơn số 414096309 khách hàng sử dụng điện từ ngày 20/02/2019 đến 16/03/2019 với số tiền 3.408 đồng (ba ngàn bốn trăm lẻ tám đồng).

3. Hóa đơn số 466291798 khách hàng sử dụng điện từ ngày 17/03/2019 đến 16/04/2019 với số tiền 48.169 đồng (bốn mươi tám ngàn một trăm sáu mươi chín đồng).

Tổng số tiền nợ 03 hóa đơn: 1.913.228 đồng (một triệu chín trăm mười ba ngàn hai trăm hai mươi tám đồng). Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH đã thông báo ngừng cung cấp điện từ ngày 04/08/2019 nhưng đến nay bà H vẫn chưa thanh toán tiền điện còn nợ cho Công ty.

Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận B buộc bà ĐTH thanh toán đầy đủ số tiền 03 kỳ là 1,913,228 đồng (một triệu chín trăm mười ba ngàn hai trăm hai mươi tám đồng).

Bị đơn là Bà ĐTH đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2021/QĐST-DS ngày 07/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2021/QĐST-DS ngày 05/5/2021 nhưng bà H vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B phát biểu ý kiến:

I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định về: thẩm quyền thụ lý quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

- Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Nguyên đơn và người đại diện đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 478032/20 ngày 28/5/2020 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH có nội dung đăng ký doanh nghiệp: sản xuất điện, chi tiết sản xuất điện năng; truyền tải và phân phối điện, chi tiết: phân phối và kinh doanh điện năng; căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là bà ĐTHphải trả số tiền còn nợ lại theo Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/004596, mã khách hàng: PE0500017XXXX ngày 03/6/2014 thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng mua bán điện” được quy định tại Điều 688, Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 22 Luật Điện lực năm 2004.

Căn cứ vào Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/004596, mã khách hàng: PE0500017XXXX ngày 03/6/2014 thể bà ĐTH tại thời điểm ký kết hợp đồng với nguyên đơn có địa chỉ thường trú tại số 56 Đường 37, phường TK, Quận B, Thành phố H; địa chỉ tạm trú số 16A Đường số 10, phường TQ, Quận B, Thành phố H. Căn cứ vào Kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường TK Quận B, Thành phố H: qua rà soát địa bàn tại địa chỉ 56 đường 37, phường TK, Quận B, Thành phố H hiện nay không có ai tên ĐTH sinh năm 1980 cư ngụ; căn cứ vào Kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường TQ Quận B, Thành phố H: hiện tại bà ĐTH sinh năm 1980 không cư trú tại địa chỉ 16A đường số 10, khu phố 3, phường TQ, Quận B, Thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận B,Thành phố H theo quy định tại Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện, khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hình thức:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn là ĐTH đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn, bị đơn theo theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét, Giấy đề nghị mua điện ngày 02/6/2014, Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/004596, mã khách hàng: PE0500017XXXX ngày 03/6/2014 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Thông tư số 19/2014/TTBCT của Bộ Công tH ngày 18/6/2014 về việc ban hành mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt, nên đủ căn cứ xác định bị đơn bà ĐTH có mua điện phục vụ mục đích sinh hoạt tại địa chỉ 16A đường số 10, phường Tân Quy, Quận B, Thành phố H.

Căn cứ vào các Hóa đơn (GTGT) tiền điện số 411306670, số 414096309, số 46629179 thì tổng số tiền điện mà bị đơn bà ĐTHđã sử dụng theo hợp đồng trên là 1.913.228 đồng (một triệu chín trăm mười ba ngàn hai trăm hai mươi tám đồng).

Căn cứ vào các Thông báo thời điểm ngừng cung cấp điện do quá hạn thanh toán ngày 06/3/2019, 08/3/2019, 03/8/2020, 04/8/2020 của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: bị đơn là bà ĐTHcòn nợ lại chưa thanh toán 03 kỳ tiền điện với tổng số tiền là 1.913.228 đồng (một triệu chín trăm mười ba ngàn hai trăm hai mươi tám đồng). Do đó, nguyên đơn đã ngừng cung cấp điện là đúng theo quy định tại Khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực năm 2004.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà ĐTH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trình bày của nguyên đơn được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên có căn cứ quy định tại Điều 430, Điều 440 Bộ luật Dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là bà ĐTH phải trả cho nguyên đơn số tiền 1.913.228 đồng (một triệu chín trăm mười ba ngàn hai trăm hai mươi tám đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a, Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 227, Khoản 1 Khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 280, Điều 430, Điều 440, Điều 357, Khoản 2 Điều 468, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 23, điểm a Khoản 2 Điều 46 Luật Điện lực 2004.

- Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

- Căn cứ điểm b Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm.

Xử:

1. Về hình thức: xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông ĐTN và (hoặc) ông LXP và (hoặc) bà LNHH và (hoặc) ông VML; bị đơn bà ĐTH.

2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH.

- Buộc bà ĐTH phải thanh toán 3 kỳ tiền điện của các Hóa đơn số 411306670, số 414096309, số 46629179 tổng cộng là 1.913.228 đồng (một triệu chín trăm mười ba ngàn hai trăm hai mươi tám đồng) cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH.

Trong trường hợp bà ĐTH chậm thi hành khoản tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành cho theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thanh toán.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà ĐTH phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0042082 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận B, Thành phố H cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tổng Công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH và bà ĐTH được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố H trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ