- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tào Văn T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2020/HS-ST Ngày 31/12/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan.
Thẩm phán: Trần Văn Thưởng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Thường Tín.
Ông Đào Ngọc Khải.
Bà Phạm Thị Hương Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Công Luật - Kiểm sát viên.
Ngày 31/12/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2020/QĐXXST-HS ngày 17/ 12 /2020 đối với :
Bị cáo: Tào Văn D, sinh năm 1968.
Nơi sinh: Tại xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Con ông: Tào Văn Kh; Con bà: Nguyễn Hữu T ( Đều đã chết).
Có vợ: Vương Thị T, sinh năm: 1972 (là bị hại trong vụ án); Có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1993.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Tào Văn D : Luật sư Nguyễn Hùng Phi - Văn phòng Luật sư Phúc Sơn - Đoàn luật sư tỉnh Hưng Yên; (có mặt).
2. Bị hại:
- Chị Vương Thị T, sinh năm: 1972 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Vũ Thị Th, sinh năm 1950.
Địa chỉ: thôn B, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Tào Văn Đ, sinh năm 1991;(có mặt).
Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Chị Tào Thị Th1, sinh năm 1993; (có mặt).
Địa chỉ: thôn B, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Vương Toàn Ph, sinh năm 1981.
Địa chỉ: thôn B, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
3. Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; (có mặt).
Địa chỉ: Đội 10, xã Ph, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Chị Hồ Thị V, sinh năm 1974; (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn B, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tào Văn D và chị Vương Thị T là vợ chồng, chung sống với nhau tại thôn T, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, đã có hai con chung là Tào Văn Đ sinh năm 1991 và Tào Thị Th1 sinh năm 1993. Quá trình chung sống, do D nghi ngờ chị T có quan hệ với người đàn ông khác và thường xuyên uống rượu nên vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nhiều lần D đánh đập vợ con. Từ năm 2007, D và chị T sống ly thân, D sống ở thôn T, xã V còn chị T và 02 con chuyển về nhà mẹ đẻ của chị T tại xã N, huyện Khoái Châu. Đến năm 2013 mẹ con chị T chuyển về sinh sống tại nhà căn nhà ở gần Chợ X thuộc thôn B, xã V, huyện Kim Động. Chị T làm nghề bán thịt lợn, hàng ngày D ra lấy thức ăn do chị T đã chuẩn bị sẵn về tự nấu ăn một mình. Năm 2014, D phải đi điều trị tại Bệnh viện tâm thần kinh Hưng Yên, được chẩn đoán rối loạn tâm thần và hành vi do uống rượu.
Do nghi ngờ chị T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên khoảng 02 giờ ngày 06/5/2020 D đạp xe đến nhà của chị T để kiểm tra, khi đến nơi D gọi cửa nhưng chị T không trả lời, không mở cửa, D đạp xe về nhà ngủ. Đến khoảng 04 giờ sáng cùng ngày, D lại tiếp tục đạp xe đến gọi cửa nhưng không thấy chị T trả lời hay ra mở cửa nên D rất bực tức. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, D đạp xe ra chợ X thấy chị T đang ngồi bán thịt lợn ở trước cửa nhà. Do bực tức nên D và chị T đã to tiếng cãi nhau, D đi đến bàn bán thịt lợn của chị T lấy 01 con dao dạng dao bầu dài 35cm lưỡi sắc nhọn bằng kim loại dài 20cm, phần chuôi bằng gỗ dài 15cm, đứng đối diện cách chị T đang ngồi trên ghế khoảng 0,5 mét, tay trái D túm vào vai phải chị T, tay phải cầm dao đâm vào ngực bên trái của chị T làm chị ngã ngửa xuống đất, D tiếp tục đâm vào tay trái và vai trái chị T. Thấy vậy, chị Hồ Thị V đang bán hàng cạnh đó hô hoán thì D dừng lại và vứt dao xuống dưới đất rồi đạp xe về nhà. D đã trèo lên mái nhà rồi nhảy xuống đất để tự tử nhưng chỉ bị thương ở chân trái. Chị T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên nhưng đã tử vong trước khi vào Bệnh viện.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Tào Văn D, thu giữ của Tào Văn D 01 xe đạp mi ni màu đỏ; 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu đen; 01 khẩu trang y tế; 01 chiếc áo cộc tay bằng vải màu trắng có bám chất dung dịch màu nâu; 01 chiếc quần bằng vải màu xanh. Kiểm tra thân thể của Tào Văn D xác định: Tại vị trí mu và các ngón tay của bàn tay phải có bám dính đám dung dịch màu nâu dải rác kích thước (7x11) cm; Tại vị trí mặt trước cẳng tay trái có bám dính đám dung dịch màu nâu nằm dải rác kích thước (04 x 09) cm; Tại vị trí mu bàn chân phải có bám dính đám dung dịch màu nâu nằm dải rác kích thước( 12x0,7) cm; Tại vị trí mắt cá trong chân trái có bám dính đám dung dịch màu nâu kích thước (0,8x0,5) cm; Cổ chân trái sưng nề bầm tím. Kết quả chụp XQuang bàn chân trái của Tào Văn D tại Bệnh viện Hưng Hà kết luận hình ảnh vỡ xương gót trái.
Khám nghiệm hiện trƣờng xác định: Hiện trường vụ án là khu vực vỉa hè trước cửa nhà chị Vương Thị T ở thôn B, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên có 02 chiếc bàn để thịt lợn, trên bàn có 04 con dao và các vật dụng để bán hàng. Xung quanh bàn có 01 ô che nắng, 01 quạt cây, 01 ghế gỗ và một miếng gỗ hình chữ nhật; Trên nền vỉa hè gần bàn để bán thịt lợn có nhiều chất dịch màu nâu đỏ nằm dải rác. Cơ quan điều tra đã thu giữ 04 con dao có đặc điểm cụ thể như sau: 01 con dao bầu dài 35cm, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại dài 20cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 7,4cm; trên bề mặt lưỡi dao có bám dính chất dịch màu nâu (niêm phong ký hiệu 2A); 01 con dao bầu dài 32cm, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại dài 20cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 06cm; trên bề mặt lưỡi dao có bám dính chất dịch màu nâu (niêm phong ký hiệu 2B); 01 con dao dùng để chặt xương bằng kim loại dài 37cm, lưỡi dao dài 26cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 08cm (niêm phong ký hiệu 2C); 01 con dao bầu dài 35cm, lưỡi dao sắc nhọn làm bằng kim loại dài 20cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 7,4cm (niêm phong ký hiệu 2D). Thu giữ 03 mẫu chất màu nâu gồm: Mẫu niêm phong ký hiệu MM3 tại mảnh gỗ hình chữ nhật trên nền vỉa hè; Mẫu niêm phong ký hiệu MM4, trên mặt chân đế bê tông của ô che nắng và trên đế quạt cây; Mẫu niêm phong ký hiệu MM5 trên mặt chiếc ghế gỗ.
Tiến hành rà soát camera an ninh xung quanh hiện trường, Cơ quan điều tra trích xuất từ camera an ninh của nhà ông Nguyễn Văn T ở thôn B, xã V, huyện Kim Động, thu giữ đoạn video lưu trữ hình ảnh diễn biến sự việc Tào Văn D lấy dao đâm vào người chị T.
Khám nghiệm tử thi Vƣơng Thị T xác định: Tử thi mặc áo phông cộc tay, áo ngấm nhiều máu; mặt trước thân áo có 02 vết rách vải kích thước (6,6x0,2)cm và ( 6,5x0,5)cm. Mặt trước ống tay áo bên trái có vết rách vải kích thước (4x1) cm. Vùng cổ, ngực, bụng có bám dính máu khô kích thước (20x3)cm. Vùng ngực bên trái có vết rách da bờ mép sắc gọn sâu thấu vào trong khoang ngực kích thước (9x4)cm. Mặt trước trong vùng vai và cánh tay trái cách mỏm vai trái 9cm có vết rách da bờ mép sắc gọn kích thước (4x16)cm. Mặt trước trong cẳng tay trái có vết rách da nằm ngang bờ mép sắc gọn kích thước (10x2,5)cm. Mổ vùng ngực bụng thấy đứt cơ tại khoang liên sườn số 5, 6 bên trái, đứt xương sườn số 6,7 bên trái kích thước (9,2x1,5)cm. Phổi hai bên xung huyết. Rách khoang bao tim. Rách cơ tim tâm thất phải kích thước (5x0,3)cm xuyên thấu sang mặt sau tâm thất trái làm rách cơ tim tâm thất trái kích thước(4,3x0,2)cm. Mặt trong thùy phổi trái có vết rách nhu mô phổi kích thước (1,2x0,2)cm. Khoang bụng không tổn thương; bên trong buồng tử cung không có thai, không giải phẫu vùng đầu do gia đình từ chối. Cơ quan điều tra đã thu giữ quần, áo (niêm phong kí hiệu MQA) mẫu phủ tạng (niêm phong ký hiệu MPT) và mẫu máu của tử thi (niêm phong ký hiệu MMT) để giám định.
Bản kết luận giám định số 2650/C09-TT3 ngày 29/5/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: Mẫu chất màu nâu ghi thu tại mu bàn tay phải của Tào Văn D (ký hiệu M1) gửi giám định là máu người, không phân tích được kiểu gen (ADN) do chất lượng dấu vết kém; Trên con dao (ký hiệu 2A) và trên chiếc áo (ký hiệu QA) gửi giám định có máu của Vương Thị T; Mẫu chất màu nâu thu tại hiện trường (ký hiệu MM3) gửi giám định là máu của Vương Thị T.
Bản kết luận giám định số 3593/C09-P6 ngày 18/6/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đối với 01 file video trích xuất từ camera an ninh của nhà ông Nguyễn Văn T, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video gửi giám định; hình ảnh trong file video đã được trích xuất, làm rõ. Chi tiết có trong bản ảnh kèm theo.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 67/GĐPY-PC09 ngày 25/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận Nguyên nhân chị Vương Thị V chết: Mất máu cấp không hồi phục do vết thương thấu ngực làm rách cơ liên sườn; xương sườn; rách khoang bao tim và cơ tim; rách nhu mô phổi. Cơ chết hình thành vết thương do vật sắc nhọn gây ra. Thể loại chết: Không tự nhiên.
Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 325/KLGĐ ngày 03/9/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương đối với Tào Văn D, kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Tào Văn D mắc bệnh rối loạn nhân cách thực tổn kèm theo rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu, Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F07.0 - F10.71. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Vương Toàn Ph là em ruột của bà Vương Thị T đại diện cho gia đình bị hại không yêu cầu Tào Văn D phải bồi thường thiệt hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 123/CT-VKS-P2 ngày 19 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố Tào Văn D về tội Giết người quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Tào Văn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo D đề nghị HĐXX xét bị cáo là người có bệnh hạn chế khả năng điều khiển hành vi, đã thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải để áp dụng điểm q, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.
Người đại diện cho bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và đề nghị xử bị cáo theo qui định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tào Văn D phạm tội Giết người. Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Tào Văn D từ 13 năm đến 14 năm, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/5/2020.
Về trách nhiệm dân sự do đại diện người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Tào Văn D tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đó là: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản tạm giữ đồ vật, Kết luận giám định 2650/C09-TT3 ngày 29/5/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an; Kết luận giám định số 3593/C09-P6 ngày 18/6/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, Kết luận giám định pháp y về tử thi số 67/GĐPY-PC09 ngày 25/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên; Hình ảnh trong file video đã được trích xuất diễn biến sự việc Tào Văn D lấy dao đâm vào người chị T. Đã có đủ cơ sở kết luận: Do ghen tuông vô cớ nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/5/2020 tại khu vực vỉa hè trước cửa nhà của chị Vương Thị T ở thôn B, xã V, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Tào Văn D đã dùng dao bầu dài 35cm lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại dài 20cm đâm vào ngực trái, vai trái và cẳng tay trái chị Vương Thị T. Hậu quả chị T đã tử vong.
Hành vi trên của bị cáo Tào Văn D được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, có tính chất côn đồ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo D mắc bệnh rối loạn nhân cách thực tổn kèm theo rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu. Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi, bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố Tào Văn D về tội Giết người, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của chị Vương Thị T là vợ của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự hèn hạ, thói ích kỷ, chỉ vì sự ghen tuông vô căn cứ mà bị cáo đã dã tâm ra tay sát hại người vợ đã nhiều năm chung sống và đã có hai con chung với bị cáo. Hành vi của bị cáo không chỉ gây mất trật tự trị an xã hội và bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân tại địa phương mà còn để lại sự đau thương không gì bù đắp được cho người thân của người bị hại và các con của bị cáo, nên cần xét xử vụ án nghiêm minh.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, xét thấy cần xử nghiêm, tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Về trách nhiệm dân sự: Anh Vương Toàn Ph là em ruột của chị Vương Thị T đại diện cho gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo Tào Văn D phải bồi thường thiệt hại. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ và quản lý:
- 01 con dao (dạng dao dùng để chặt xương) bằng kim loại dài 37cm có phần lưỡi dao dài 26cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 8cm, phần chuôi dao dài 11cm.
- 02 con dao dạng bầu dài 35cm có phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 7,4cm, phần chuôi bằng gỗ dài 15cm.
- 01 con dao dạng dao bầu dài 32cm có phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 6cm, phần chuôi bằng gỗ dài 12cm.
- 01 chiếc áo ký hiệu QA.
- Phần còn lại của các mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1,MM3, MMT.
- 01 khẩu trang bằng vải, 01 quần bằng vải màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “Mẫu máu thu của Tào Văn D ký hiệu M5”.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “Mẫu máu thu tại cẳng tay trái của Tào Văn D ký hiệu M2”.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “Mẫu máu thu tại mu bàn chân phải của Tào Văn D ký hiệu M3”.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “ Mẫu máu thu tại mắt cá trong chân phải của Tào Văn D ký hiệu M4”.
- 01 bì thư niêm phong ký hiệu “MM4”.
- 01 bì thư niêm phong ký hiệu “MM5”.
- 01 niêm phong ký hiệu “MQA” bên trong có một áo phông cộc tay kẻ sọc trắng đen, một áo lót màu đen và một quần vải dài màu xanh có cạp chun.
- 01 chiếc xe đạp mini màu đỏ, phía trước có giỏ đựng bằng kim loại.
Trong các vật chứng trên có 01 con dao dạng bầu dài 35cm có phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 7,4cm, phần chuôi dao bằng gỗ dài 15cm, là công cụ phạm tội nên tịch thu, cho tiêu hủy.
Các vật chứng còn lại là tài sản hợp pháp của bị cáo và bị hại không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại không nhận lại những đồ vật trên. Xét thấy, các đồ vật này đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy. Riêng chiếc xe đạp mini màu đỏ sẽ trả lại cho bị cáo sử dụng.
Đối với USB lưu giữ hình ảnh bị can Tào Văn D dùng dao bầu đâm chị Vương Thị T ngày 6/5/2020, ký hiệu “VDTV” và USB lưu trữ lời khai nhận tội của bị can Tào Văn D là chứng cứ của vụ án cần lưu trong hồ sơ vụ án.
. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Buộc Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Tào Văn D phạm tội: “Giết người”.
[2]. Về hình phạt:
Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tào Văn D 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2020.
[3]. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3.1]. Tịch thu cho tiêu hủy các vật chứng sau:
* 01 niêm phong (ký hiệu VC) bên ngoài ghi “vật chứng vụ án giết người xảy ra ngày 06/5/2020 tại thôn T, xã V, huyện Kim Động, Hưng Yên” có 05 chữ ký và 09 dấu đỏ của Phòng Cảnh sát hình sự -Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong có:
- 01 con dao (dạng dao dùng để chặt xương) bằng kim loại dài 37cm có phần lưỡi dao dài 26cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 8cm, phần chuôi dao dài 11cm.
- 02 con dao dạng bầu dài 35cm có phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 7,4cm, phần chuôi bằng gỗ dài 15cm.
- 01 con dao dạng dao bầu dài 32cm có phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 6cm, phần chuôi bằng gỗ dài 12cm.
- 01 chiếc áo ký hiệu QA.
- Phần còn lại của các mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1,MM3, MMT.
* 01 niêm phong có 3 dấu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an bên trong có: 01 khẩu trang bằng vải, 01 quần bằng vải màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “Mẫu máu thu của Tào Văn D ký hiệu M5”.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “Mẫu máu thu tại cẳng tay trái của Tào Văn D ký hiệu M2”.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “Mẫu máu thu tại mu bàn chân phải của Tào Văn D ký hiệu M3”.
- 01 bì thư niêm phong có ghi chữ “ Mẫu máu thu tại mắt cá trong chân phải của Tào Văn D ký hiệu M4”.
- 01 bì thư niêm phong ký hiệu “MM4”.
- 01 bì thư niêm phong ký hiệu “MM5”.
- 01 niêm phong ký hiệu “MQA” bên trong có một áo phông cộc tay kẻ sọc trắng đen, một áo lót màu đen và một quần vải dài màu xanh có cạp chun.
[3.2]. Trả lại cho bị cáo Tào Văn D 01 chiếc xe đạp mini màu đỏ, phía trước có giỏ đựng bằng kim loại.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 52/QĐ-VKS-P2 ngày 19 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên).
[3.3]. Lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB lưu giữ hình ảnh ký hiệu “VDTV” và 01 USB lưu trữ lời khai của bị cáo Tào Văn D.
[4]. Án phí:
Bị cáo Tào Văn D phải chịu 200.000đ00 (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VP, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hoan |