vanban.org

Bản án 127/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Ý N và anh Nguyễn Huỳnh T là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Nhã T, sinh ngày 19/01/2020 cho chị Trần Ý N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Nguyễn Huỳnh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Ý N khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Huỳnh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Ý N và anh Nguyễn Huỳnh T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:127/2020/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 6 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Ngọc Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2020/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:240/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Ý N, sinh năm 2001; Cư trú tại: Ấp B H, xã T D, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Huỳnh T, sinh năm 2000; Cư trú tại: Ấp T H, xã N C, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện chị Trần Ý N trình bày:

Về hôn nhân: Chị N và anh T tổ chức đám vào năm 2018 nhưng không có đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Nhã T, sinh ngày 19/01/2020. Khi ly hôn chị N xin nuôi con, việc cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Huỳnh T: Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án, anh T có ý kiến xin từ chối tham gia tố tụng tại Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Ý N và anh Nguyễn Huỳnh T có ý kiến xin từ chối tham gia phiên tòa sơ thẩm nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N thấy rằng, mặc dù hôn nhân của chị N và anh T trên cơ sở tự nguyện nhưng do anh, chị không có đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận chị N và anh T là vợ chồng.

Về con chung: Xét yêu cầu xin nuôi con của chị N thấy rằng, từ ngày anh chị ly thân đến nay cháu Nhã T do chị N nuôi dưỡng vẫn đảm bảo phát triển đầy đủ về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, cần giao cháu Nhã T cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị N và anh T xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ: Chị N và anh T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35 và khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14; Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Ý N và anh Nguyễn Huỳnh T là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Nhã T, sinh ngày 19/01/2020 cho chị Trần Ý N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Anh Nguyễn Huỳnh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Ý N phải chịu 300.000 đồng. Ngày 06 tháng 5 năm 2020 chị N đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0010577 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, được chuyển thu.

Chị Trần Ý N và anh Nguyễn Huỳnh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ