- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2020/DS-PT Ngày 11/6/2020 V/v Tranh chấp tiền bồi thường khi thu hồi đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Ngu n Ng c Th ng
Các Thẩm phán:
Ông Ngu n Tấn Tặng
Ông Sỹ Danh Đạt
- Thư ký phiên toà: Bà Ngu n Thị P – Thư k Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Ngu n Tấn Tài - Kiểm sát viên.
Vào ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm c ng khai vụ án thụ l số: 189/2020/TLPT-DS ngày 17 tháng 02 năm 2020, về việc “Tranh chấp tiền bồi thường khi thu hồi đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 75/2019/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân hu ện T bị kháng cáo;
Theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 154/2020/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngu n Văn C, sinh năm 1940
Địa chỉ: Ấp 1, xã P, hu ện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Ngu n Văn K, sinh năm 1928
Ủy quyền cho: Ông Ngu n Vũ L (Bé H), sinh năm 1964
Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã P, hu ện T, tỉnh Đồng Tháp
(Theo văn bản ủ qu ền ngà 08/6/2020)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Ngu n Thị Râm, sinh năm 1944 (vợ ông K);
Ủy quyền cho: Ông Ngu n Vũ L (Bé H), sinh năm 1964
Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã P, hu ện T, tỉnh Đồng Tháp
(Theo văn bản ủ qu ền ngà 08/6/2020)
2/ Ông Ngu n Vũ L, sinh năm 1964 (con ông K);
3/ Bà Ngu n Bích P, sinh năm 1971 (con ông K);
4/ Bà Ngu n Thị Kim M, sinh năm 1976 (con ông K);
5/ ng Ngu n Phước L1, sinh năm 1979 (con ông K);
6/ bà Ngu n Ng c G, sinh năm 1983 (con ông K).
Bà P, bà Mai, ông L1 và bà G cùng ủ qu ền cho ng Ngu n Vũ L (Theo văn bản ủ qu ền ngà 08/6/2020).
(Ông C và Ông L có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Trước đâ , cha mẹ ông (ông Nguy n Văn S và bà Phạm Thị Ng) có tạo lập được một số đất t a lạc xã An Long (nay là Ấp 3, xã P), cha, mẹ ông quản lý và sử dụng đến khoảng năm 1982- 1983 thì phân chia đất cho các con gồm: Bà N, ông K, ông C, bà T, ông M và bà N1 mỗi người một phần đất có chiều ngang là 9 tầm (27 mét) chiều dài từ lộ 844 cho đến sau hậu, chiều dài của mỗi người khác nhau (chiều dài không bằng nhau), phần ng được cho diện tích đất 3.240m2 (chiều ngang 27 mét, chiều dài 120 mét). Phần đất ng được cha, mẹ cho có tứ cận như sau: mặt tiền chiều ngang 27 mét giáp với tỉnh lộ 844, phía sau hậu chiều ngang 27 mét giáp kênh 2/9, phía trong (mặt trời m c) có chiều dài 120 mét giáp với bà 6 T, phía ngoài (mặt trời lặn) có chiều dài 120 mét giáp với ông 8 M, sau khi cha, mẹ chia đất thì phần đất ông giáp với ông 8 M Nhà nước múc kênh nên giáp với kênh.
Sau khi được cha, mẹ cho phần đất trên, ông tiến hành trồng rẫ (Đậu) được khoảng 3 năm, đến năm 1986- 1987 thì Nhà nước múc kênh lớn hơn so với ban đầu nên chia phần đất của ông thành 2 phần (con kênh múc chia đất ông thành 2 phần). Sau khi Nhà nước múc kênh chia đất ông thành 2 phần, phần phía sau hậu ông bán lại cho ông 8 Mết, còn phần phía mặt tiền từ tỉnh lộ 844 chiều ngang 27 mét, chiều dài khoảng 44 mét thì ng để trống, không sử dụng gì từ năm 1986- 1987 (từ thời điểm nhà nước múc kênh) cho đến nay. Năm 1993, ng có đi đăng k Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đăng k luôn các phần đất khác của ng). Sau khi đi đăng k , ng được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất nhiều thửa, ng nghĩ là trong đó có thửa đất cha, mẹ cho ng, nhưng sau nà ông phát hiện thì phần đất của cha, mẹ cho chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với phần đất còn lại của ông (phía mặt tiền), sau khi ng để trống không sử dụng thì ông K có sử dụng đào hầm chiều ngang khoảng 5-6 mét, chiều dài khoảng 6-7 mét để nuôi cá Bông.
Đến năm 2017, Nhà nước có thu hồi phần đất trên để làm dự án hệ thống giao th ng có bồi thường với giá là 1.200.000đ/m2.
Sau khi Nhà nước bồi thường, ng mới biết phần đất của ng do ông K đứng tên Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất thuộc 1 phần thửa 844, tờ bản đồ số 1, diện tích là 648m2 (diện tích toàn thửa là 1.639m2 ). Khi Nhà nước thu hồi đất đã bồi thường số tiền trên cho ông K và ông K đã nhận xong.
Như vậ , phần đất của ng là 648m2, giá nhà nước bồi thường là 1.200.0000đ/m2 số tiền là 777.600.000đ.
Nay Ông C khởi kiện yêu cầu ông K phải giao trả lại tiền khi Nhà nước thu hồi đất của ông với số tiền là 777.600.000đ.
- Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ L(Bé H) trình bày: Khoảng năm 1982- 1983, cha ông (K) có mua của cô ruột ông (bà 6 T) 1 phần đất (không rỏ chiều ngang, chiều dài), cặp với đất của ông C, phần đất này có nguồn gốc của ông, bà nội ông (cha, mẹ của cha ông và bà T). Sau khi cha ông mua phần đất trên thì có sử dụng trồng Me nước được 1 thời gian thì cha ông múc hầm để nuôi cá (múc 2 cái hầm 1 cái lớn và 1 cái nhỏ). Đến năm 1992- 1993 thì cha ng đi đăng k và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc thửa 844, tờ bản đồ số 1, diện tích là 1.639m2. Đến năm 2011, thì đổi lại Giấy chứng nhận mới đất như hiện nay. Còn phần đất của Ông C (cặp với đất của bà 6 T bán cho cha ng) đến khoảng năm 1984-1985 thì Nhà nước tiến hành múc kênh 2/9. Khi Nhà nước múc kênh thì phần đất mặt tiền (giáp tỉnh lộ 844) của Ông C bị múc làm kênh, do con kênh đi xéo (hình dấu sắc) nên phần đất của Ông C chỉ còn phía sau hậu nhưng phía bên kia kênh. Còn phần đất cha ông sử dụng, sau này Nhà nước thu hồi để làm dự án hệ thống giao th ng là của cha ng mua lại của bà 6 T và đã được cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất thuộc thửa 844, tờ bản đồ số 1, diện tích là 1.639m2.
Năm 2018, Nhà nước thu hồi 1.043,1m2 thuộc 1 phần của thửa 844 của cha ng để làm dự án hệ thống giao th ng và có bồi thường khi thu hồi đất với giá là 1.200.000đ/m2 và cha ng đã nhận tiền bồi thường xong và đã giao đất cho Nhà nước theo qu định.
Nay Ông C cho rằng trong phần diện tích đất mà cha ng nhận tiền bồi thường (1.043,1m2), có phần đất của Ông C là 648m2 và êu cầu cha ng trả lại số tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là 777.600.000đ, ng kh ng đồng vì phần đất trên là của cha ng, kh ng phải đất của ông C.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 75/2019/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân hu ện Tđã xử:
1/ Bác êu cầu khởi kiện của ng Ngu n Văn C đối với ng Ngu n Văn K về việc êu cầu trả lại diện tích đất bị thu hồi là 648m2, với số tiền thu hồi đất là 777.600.000đ (Bả trăm bả mươi bả triệu sáu trăm nghìn đồng).
2/ Ông Ngu n Văn C phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.143.000đ (Ba triệu một trăm bốn mươi ba nghìn đồng) (đã nộp xong).
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: ng Ngu n Văn C được mi n toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngày 30/12/2019 Ông C kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 75/2019/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân hu ện T.
- Tại phiên tòa phúc thẩm ông C phát biểu: Giữ ngu ên êu cầu kháng cáo, đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông C, buộc ông K trả lại cho ông C số tiền 777.600.000đ.
- Tại phiên tòa phúc thẩm Ông L phát biểu: Đề nghị kh ng chấp nhận kháng cáo của ông C, giữ ngu ên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu: Từ khi thụ l vụ án và quá trình giải qu ết vụ án Thẩm phán thụ l giải qu ết vụ án đúng các qu định pháp luật. Quá trình giải qu ết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo qu định pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt nội qu phiên tòa. Về đường lối xét xử, Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông C, giữ ngu ên bản án sơ thẩm.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp tiền bồi thường khi thu hồi đất là đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của ông C êu cầu chấp nhận êu cầu khởi kiện, buộc ông K trả lại tiền bồi thương đất 777.600.000đ, Hội đồng xét xử xét thấ :
Ông C cho rằng phần diện tích đất tranh chấp (về tiền thu hồi đất) có nguồn gốc là của cha mẹ ông C cho ông C vào năm 1982. Phần chia cho ông C có chiều ngang 27 mét, chiều dài khoảng 120 mét. Sau khi được cha, mẹ phân chia, ông C sử dụng đến khoảng năm 1984 thì Nhà nước múc kênh 2/9, chia phần đất của ông C thành 2 phần, phần phía sau hậu ông C sang nhượng lại cho ông M, còn phần phía mặt tiền (đất tranh chấp) diện tích còn lại ít nên ông C không sử dụng, mà do ông K quản lý và sử dụng.
Khi ông K đăng k và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông C không biết. Đến khi Nhà nước thu hồi một phần diện tích để thực hiện dự án đầu tư hệ thống giao th ng (năm 2018), thì ông C mới biết và khởi kiện, phát sinh tranh chấp.
Ông C thừa nhận rằng khi Nhà nước đào kênh 02/9 (múc 02 lần) thì ông C cũng kh ng biết diện tích đất còn lại của ông là bao nhiêu, chiều ngang, chiều dài, cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, thì ông tự xác định phần diện tích đất còn lại của ông là 648m2.
Tu nhiên, căn cứ vào lời khai của những người làm chứng là ông M, bà T, bà N1trình bà khi Nhà nước múc kênh 02/9 vào khoảng năm 1984 thì ông K quản lý sử dung từ đó đến nay. Thể hiện như:
+ Tại biên bản ghi lời khai ngày 16/10/2019 bà T trình bà đã chu ển nhượng phần đất của bà T cho ông K.
+ Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2019, ông M trình bà : “Vào khoảng năm 1982- 1983, cha mẹ ng có phân chia đất cho các anh, chị em ng, trong đó có ông C được chia chiều ngang 27 mét, chiều dài từ lộ nhựa ra đến sau hậu, phần đất của ông C được phân chia giáp với đất của bà Sáu Thường. Sau khi được chia đất, ông C sử dụng đến khi Nhà nước múc kênh 2/9 chia đất của ông C thành 2 phần, phần phía sau hậu thì ông C sang nhượng lại cho ông, còn phần phía mặt tiền (đất đang tranh chấp) diện tích còn lại ít nên ông C không sử dụng mà do ông K quản lý và sử dụng từ khi Nhà nước múc kênh 2/9 cho đến nay, trong quá trình ông K sử dụng phần đất trên, ông C biết nhưng kh ng có kiến hay tranh chấp gì”.
+ Tại các biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2019 và ngày 21/10/2019, bà T và bà N1 cũng xác định phần đất tranh chấp giữa ông C và ông K hiện nay, từ khi Nhà nước đào kênh 2/9 cho đến nay, do ông K quản lý và sử dụng.
Xét lời trình bày của ông C về quá trình sử dụng phần đất có tranh chấp về tiền bồi thường kh ng đúng với lời trình bày của ông M, bà T và bà N1.
Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì phần diện tích đất của ông C có chiều ngang mặt tiền (lộ 844) là 27,02 mét, chiều ngang sau hậu là 27,02 mét, chiều dài 1 cạnh là 32,32 mét, 1 cạnh là 28 mét là chưa đúng với đơn khởi kiện và ý kiến trình bày của ông tại phiên tòa. Đồng thời theo sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ và quyết định số 89/QĐ-UBND-HC ngày 26/01/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Tvề việc thu hồi đất thì phần đất thuộc thửa 844, Ủy ban nhân dân huyện Tchỉ thu hồi 1.043,1m2, trong đó có chiều dài là 28,84 mét, không thu hồi hết diện tích đất của ông C nhưng ông C yêu cầu ông K phải trả lại toàn bộ số tiền thu hồi đất với diện tích đất 648m2 là không có cơ sở chấp nhận.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấ êu cầu kháng cáo của ông C kh ng có cơ sở. Cho nên kh ng chấp nhận êu cầu kháng cáo của ông C về việc êu cầu ông K trả 777.600.000.000đ.
Do kh ng chấp nhận êu cầu kháng cáo nên Ông C phải chịu án phí phúc thẩm nhưng được mi n theo qu định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của của ông Ngu n Văn C.
- Giữ ngu ên bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 74, 75, 166 Luật Đất đai năm 2003; Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ, khoản 1, Điều 12 của Nghị qu ết số: 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 Qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tu ên xử:
1. Kh ng chấp nhận kháng cáo của ng Ngu n Văn C đối với ng Ngu n Văn K về việc êu cầu trả lại diện tích đất bị thu hồi là 648m2, với số tiền thu hồi đất là 777.600.000đ (Bả trăm bả mươi bả triệu sáu trăm nghìn đồng).
2. Ông Ngu n Văn C phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.143.000đ (Ba triệu một trăm bốn mươi ba nghìn đồng), ông C đã nộp và chi xong.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Ngu n Văn C được mi n toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngà hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án./.
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra TAND Tỉnh ĐT; - VKSND Tỉnh ĐT; - TAND hu ện T; - Chi cục THADS hu ện T; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã k ) Nguyễn Ngọc Thông |