vanban.org

Bản án 127/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích ".

51 BLHS năm 2015, Điều 38 BLHS. xử phạt Vũ Đình T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VDT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2019/HSST
Ngày 11/4/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Mai Thị Hồng Thái

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Trần Quảng Thái

2. Ông Lê Văn Ninh

Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân,Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 04 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố

Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2019/TLST-HS, ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:

Vũ Đình T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày11/9/1983tại Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Tổ 16 phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do;trình độ học vấn: 12/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình N và bà Lương Thị T; Chung sống như vợ chồng với chị Bùi Kiều A, sinh năm 1981, có 01 con chung, sinh năm 2010; tiền án: không;

- Tiền sự: + Ngày 16/01/2017 bị Công an phường Tân Thành, thành phố

Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng, về hành vi: “Dùng gạch đá ném vào người, phương tiện giao thông của người khác”. Hiện T chưa nộp phạt.

+ Ngày 29/11/2017 bị Công an thành phố Thái Nguyên xử phạt vi phạm

hành chính 750.000 đồng, về hành vi: “Đánh nhau”, đã chấp hành xong ngày 28/03/2018.

- Nhân thân: Ngày 27/9/2004 bị Công an phường Cam Giá, thành phố

Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đồng, về hành vi: “Gây mất trật tự”, đã chấp hành xong ngày 01/10/2004. Ngày 9/7/2007 bị Công an phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 400.000 đồng, về hành vi: “Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau”, đã chấp hành xong tháng 7/2007.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị

tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2018 đến nay).Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1988, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

HKTT: Tổ 16, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Lương Thị T, sinh năm 1959 (Có mặt).

HKTT: Tổ 16 phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên

* Người làm chứng:

1. Ông Đỗ Quang H, sinh năm 1957.(Vắng mặt).

HKTT:tổ dân phố 16, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên

2. Anh Vũ Trung K, sinh năm 1980. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 16, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên

3. Ông Hoàng Xuân K, sinh năm 1959.(Vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 16, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 16/11/2018, Vũ Đình T điều khiển xe đạp Mi

ni màu đỏ từ nhà mang theo 01 con dao phay chuôi gỗ, dài 53,5 cm để đi mua rượu và tìm cây dọc mùng về nấu canh, T gài dao vào gác ba ga phía sau xe đạp. Sau khi mua rượu về đến khu vực đường ngách 23, ngõ 383A, đường Vó Ngựa, thuộc tổ 16, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên (trước cổng nhà ông Ngọ Quang T) lúc này chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1988, HKTT: Tổ 16, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên (là hàng xóm của T) đang điều khiển xe mô tô HONDA Wave S, BKS: 20L9 -8349 trên đường đi mua gạo về, lúc đó T đi phía trước cùng chiều với xe mô tô của chị H. Do có mâu thuẫn từ trước với vợ chồng chị H, phát hiện thấy chị H ở phía sau, T quay xe đạp ngược lại, đi đến gần vị trí xe mô tô của chị H,T rút con dao phay mang theo cầm dao trên tay phải nhảy ra khỏi xe đạp đứng chặn trước đầu xe của chị H, xe đạp của T va vào tay lái bên trái xe mô tô của chị H, làm xe đạp bị đổ ra đường ngay tại vị trí sau xe mô tô của chị H, xe mô tô của chị H bị đổ dựa vào bờ tường rào gạch xây của nhà dân bên phải theo chiều đi. Lúc này chị H vẫn ngồi trên xe, T liền dùng dao chém 02 nhát về phía người chị H, chị H giơ tay phải lên đỡ thì bị T chém trúng 02 nhát vào khuỷu tay phải, chị H liền nhảy ra khỏi xe mô tô và chạy về phía cổng nhà ông T kêu cứu thì Tú đuổi theo sau, cầm dao chém về phía chị H trúng 01 nhát vào phía sau mũ bảo hiểm xe mô tô của chị H đang đội trên đầu làm vỡ mũ bảo hiểm và sượt vào vai trái chị H. Sau đó, Chị H dùng tay đẩy cổng định vào nhà ông Toàn nhưng do cổng khóa nên không vào được bên trong, Tú tiếp tục dùng dao chém liên tiếp nhiều nhát về phía chị H, chị H có giơ tay phải lên đỡ thì bị T chém trúng ngón cái tay phải làm đứt gần rời ngón tay. Chị H dùng tay trái giữ ngón cái tay phải chạy về phía nhà ông Đỗ Quang H, sinh năm 1957 là tổ trưởng tổ dân phố 16, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên và hô hoán kêu cứu. Lúc đó, có một số người dân chạy ra thì Tú không đuổi theo chị H nữa mà cầm dao bỏ về nhà. Chị H được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên từ ngày 16/11/2018, đến ngày 26/11/2018 thì ra viện.

Tại bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên, kết luận:

Chị Vũ Thị Thu H bị thương tích:Vai trái có vết thương kích thước 4 cm, sâu 3 cm chạy dọc, sắc gọn, không vỡ xương; ngón 01 tay phải có vết thương khoảng 5cm chạy chếch từ dưới lên trên đứt gần rời ngón 1, còn vạt da nhỏ phía trong (đứt vỡ xương đốt 01, đứt nông gân duỗi); khuỷu tay phải có 02 vết thương, kích thước lần lượt là 04 cm và 07 cm, chạy hình vòng cung, 2 vết cách nhau 3 cm, làm trật hở khớp, vỡ lồi cầu ngoài xương cánh tay làm 2 mảnh, đứt gân cơ tam đầu, vỡ mảnh nhỏ mỏng đầu trên xương trụ; má phải có 01 vết xước da dài khoảng 5 cm, mặt trước khuỷu tay trái có 01 vết xước da dài khoảng 5 cm.

Chị Vũ Thị Thu H có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự đối với Vũ Đình

T.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 433/TgT ngày

19/11/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Thái Nguyên, kết luận về thương tích của chị Vũ Thị Thu H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Đa vết thương: Gãy xương đốt ngón 1

bàn tay (P); đứt gân gấp; gân duỗi ngón 1 bàn tay (P); vỡ mẻ lồi cầu xương cánh tay (P); vỡ mảnh nhỏ mỏng đầu trên xương trụ; trật khớp khuỷu (P) đã nắn chỉnh; có 6 vết sẹo KT nhỏ.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11% (Mười

một phần trăm).

3. Kết luận khác: Bệnh nhân bị trật khớp khuỷu tay (P), đã được nắn

chỉnh, hiện tại đang nằm điều trị tại bệnh viện nên chưa có cơ sở đánh giá tình trạng của khớp khuỷu. Sau khi bệnh nhân ra viện. Cơ quan Cảnh sát điều tra có thể trưng cầu giám định bổ sung (BL: 29).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 501/TgT

ngày 28/12/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thái Nguyên, kết luận về thương tích củachị Vũ Thị Thu H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Đa vết thương: Gãy xương đốt 1 ngón 1

bàn tay (P); đứt gân gấp; gân duỗi ngón 1 bàn tay (P); vỡ mẻ lồi cầu xương cánh tay (P); vỡ mảnh nhỏ mỏng đầu trên xương trụ; trật khớp khuỷu (P) cũ hiện tại ổn định; có 06 vết sẹo KT nhỏ.

2. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11%

(Mười một phần trăm). Áp dụng theo biện pháp cộng lùi (BL: 31).

Tại Cơ quan điều tra Vũ Đình T khai nhận thương tích của chị Vũ Thị

Thu H do T dùng dao gây nên, T không có ý thức tước đoạt tính mạng của chị H, do chị H điều khiển xe mô tô đi phía sau cùng chiều đã đâm vào phía sau đuôi xe đạp của T, làm xe đạp của T bị đổ ra đường, chị H dùng tay tát T nên T mới dùng dao chém chị H, T không thừa nhận việc T điều khiển xe đạp đâm vào xe mô tô của chị H từ phía đối diện. Tuy nhiên căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám dấu vết xe đạp và xe mô tô do T và chị H điều khiển và các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được xác định lời khai của T về tình tiết này là không có căn cứ(BL:29, 55 - 59, 95, 128, 129, 130, 139, 140 - 149, 150 – 159, 179, 180 - 187, 192 - 199 – 204 – 205 -208).

Về trách nhiệm dân sự: Chị H và bà Lương Thị T, sinh năm 1959, HKTT:

Tổ 16 phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên (là mẹ đẻ của bị can T) đã thống nhất mức bồi thường là 30.000.000 đồng. Hiện bà T đã bồi thường được 30.000.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong bên trong chứa: 01 con dao phay dài 53,5 cm chuôi dao

bằng gỗ; lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, có 01 cạnh sắc, bản rộng 7cm, trên lưỡi dao có bám dính vật chất màu nâu đỏ nghi là máu người.

- 01 bì niêm phong bên trong có chứa mẫu vật chất màu nâu đỏ nghi là máu

người được thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường.

- 01 bì niêm phong bên trong có chứa: 02 mảnh nhựa có kích thước lần lượt

8 cm x12 cm và 6,5 cm x 2,5cm (dạng mảnh vỡ của mũ bảo hiểm xe mô tô) được thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường.

- 01 bì niêm phong bên trong có chứa mẫu vật chất màu nâu đỏ nghi là máu

người được thu trong quá trình kiểm tra, xem xét dấu vết trên xe mô tô HONDA Wave S, BKS 20L9-8439.

-01 mũ bảo hiểm xe mô tô dạng mũ nửa đầu đã qua sử dụng, màu nâu,

nhãn hiệu “Amby Helmet”, phía sau mũ bị mất một mảng nhựa bờ mép nham nhở kích thước khoảng 8 cm x13cm.

Số vật chứng trên hiện được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi

hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

- 01 xe mô tô HONDA Wave S, màu đen-xám; BKS: 20L9-8439, số máy:

HC09E-6764160, số khung: Y941442, đã qua sử dụng. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vũ Thị Thu H quản lý, sử dụng.

- 01 xe đạp mini màu đỏ, đã qua sử dụng. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại

cho bà Lương Thị T quản lý, sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSTPTN ngày 30/01/2019 của Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Vũ Đình T khai: Vết thương trên người chị H là do T đã dùng dao

gây thương tích. Tuy nhiên, T không có ý thức tước đoạt tính mạng của chị H, do chị H điều khiển xe mô tô đi phía sau cùng chiều đã đâm vào phía sau đuôi xe đạp của T, làm xe đạp của T bị đổ ra đường, chị H dùng tay tát T nên T mới dùng dao chém chị H. Bị cáo thừa nhận tội danh và khung hình phạt như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố, không có oan, sai.

- Bà T (mẹ T) khai: Bà không chứng kiến việc T gây thương tích cho chị H

nhưng sau khi biết T bị giam vì gây thương tích cho chị H, T đã tác động đến bà T nhờ bà đến nhà chị H thỏa thuận bồi thường cho chị H 30.000.000đ. Hiện nay bà T đã thay T bồi thường cho chị H toàn bộ số tiền trên. Bà không đề nghị bị cáo hoàn trả lại bà số tiền bà đã bồi thường thay cho bị cáo.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội Cố Ý gây thương tích.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015; Điểm b, s khoản 1,

khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 xử phạt Vũ Đình T từ 24 đến 30 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong. Xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST.

- Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, chỉ xin HĐXX xét xem cho

được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy

tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành cá Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của

người bị hại, người làm chứng và phù hợp với những chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 16/11/2018 tại khu vực thuộc tổ 16 phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên, do có mâu thuẫn từ trước với gia đình chị Vũ Thị Thu H, nên Vũ Đình T đã có hành vi dùng dao phay chuôi gỗ dài 53,5 cm chém nhiều nhát về phía người chị H gây thương tích gãy xương đốt ngón 1 bàn tay phải; đứt gân gấp, gân duỗi ngón 1 bàn tay phải; vỡ mẻ lồi cầu xương cánh tay phải; vỡ mảnh nhỏ mỏng đầu trên xương trụ, trật khớp khuỷ tay phải đã nắn chỉnh; có 6 vết sẹo KT nhỏ. Qua giám địnhcác thương tích của chị Vũ Thị Thu H 11%.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Đình T đã phạm tội “Cố ý gây

thương tích", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến sức

khỏe của người khác được phápluật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

đối với các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Vũ Đình T là người chưa có tiền án, nhưng có 02 tiền sự và nhân thân xấu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bố đẻ của bị cáo là người có công được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã tác động đến mẹ đẻ là bà Lương

Thị T bồi thường cho bị hại chị Vũ Thị Thu H 30.000.000đ. Chị H không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa, bà T không đề nghị bị cáo T phải hoàn trả lại bà số tiền 30.000.000đ bà đã bồi thường cho chị H. Hội đồng xét xử thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 bì niêm phong bên trong chứa: 01 con dao phay

dài 53,5 cm chuôi dao bằng gỗ; lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, có 01 cạnh sắc, bản rộng 7cm, trên lưỡi dao có bám dính vật chất màu nâu đỏ nghi là máu người; 01 bì niêm phong bên trong có chứa mẫu vật chất màu nâu đỏ nghi là máu người được thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường; 01 bì niêm phong bên trong có chứa: 02 mảnh nhựa có kích thước lần lượt 8 cm x12 cm và 6,5 cm x 2,5cm (dạng mảnh vỡ của mũ bảo hiểm xe mô tô) được thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường; 01 bì niêm phong bên trong có chứa mẫu vật chất màu nâu đỏ nghi là máu người được thu trong quá trình kiểm tra, xem xét dấu vết trên xe mô tô HONDA Wave S, BKS 20L9-8439.01 mũ bảo hiểm xe mô tô dạng mũ nửa đầu đã qua sử dụng, màu nâu, nhãn hiệu “Amby Helmet”, phía sau mũ bị mất một mảng nhựa bờ mép nham nhở kích thước khoảng 8 cm x13cm. Xét thấy những mẫu vật chứng trên không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích ".

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51 BLHS năm 2015, Điều 38 BLHS.

xử phạt Vũ Đình T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

16/11/2018.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo

thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong

3. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 136 BLTTHS

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì niêm phong bên trong chứa: 01 con dao phay dài 53,5 cm chuôi dao

bằng gỗ; lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, có 01 cạnh sắc, bản rộng 7cm, trên lưỡi dao có bám dính vật chất màu nâu đỏ nghi là máu người.

+ 01 bì niêm phong bên trong có chứa mẫu vật chất màu nâu đỏ nghi là

máu người được thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường tại vị trí đánh số 1 trên sơ đồ hiện trường.

+ 01 bì niêm phong bên trong có chứa: 02 mảnh nhựa có kích thước lần

lượt 8 cm x12 cm và 6,5 cm x 2,5cm (dạng mảnh vỡ của mũ bảo hiểm xe mô tô) được thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường được thể hiện tại vị trí đánh số 1 trên sơ đồ hiện trường.

+ 01 bì niêm phong bên trong có chứa mẫu vật chất màu nâu đỏ nghi là

máu người được thu trong quá trình kiểm tra, xem xét dấu vết trên xe mô tô HONDA Wave S, BKS 20L9-8439.

+ 01 mũ bảo hiểm xe mô tô dạng mũ nửa đầu đã qua sử dụng, màu nâu,

nhãn hiệu “Amby Helmet”, phía sau mũ bị mất một mảng nhựa bờ mép nham nhở kích thước khoảng 8 cm x13cm.

(Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho của chi cục thi hành án dân

sự Thành phố Thái Nguyên biên bản giao nhận vật chứng số 120 ngày 21/01/2019 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên)

4. Án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng ) án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ