- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2019/HSST Ngày: 16- 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hồ Lê Hưng – Cán bộ hưu trí;
2/ Bà Phạm Thị Nhung – Cán bộ hưu trí;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phan Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 123/2019/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T; sinh ngày: 12/8/2001, tại: TP. Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký NTTT: 03 Nguyễn Thái H, phường Tân Thành, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: 153/20/7 Bình T, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn:06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn S, sinh năm 1965 và bà: Nguyễn Thị Anh L, sinh năm 1967; vợ, con: chưa; tiền sự: không; tiền án: không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại nhà tạm giữ Công an quận Tân Phú từ ngày 06/9/2019 và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Chung Ngọc Thạnh – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước TP. Hồ Chí Minh (Có mặt).
Người bị hại: chị Trần Thị Kiều A, sinh năm 1997; trú tại: 67 Đỗ Nh, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 01/3/2019 Nguyễn Anh T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 47N9-4032 lưu thông thông trên đường Lê Trọng Tấn (hướng về ngã tư Gò Mây). Khi đến trước nhà số 220 Lê Trọng Tấn, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh, T thấy chị Trần Thị Kiều A đang đứng trên lề đường trên tay cầm 01 điện thoại di động, hiệu Iphone XS Max chụp ảnh cho chị Võ Thị Ánh Ng. Nên T nảy sinh ý định cướp giật, T điều khiển xe chạy lên lề đường, áp sát từ phía sau lưng bên tay phải của chị Kiều A, dùng tay trái giật điện thoại, rồi điều khiển xe bỏ chạy. Lúc này, chị Ng nắm đuôi xe kéo lại làm T ngã xuống đường. T tiếp tục bỏ chạy đến trước số nhà 221C Lê Trọng Tấn thì bị người dân bắt giữ giao cho Công an phường Sơn Kỳ xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận định giá số 145/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 25/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Tân Phú đã kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng hồng, số imel: 357272091747034, trị giá: 22.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ :
- 01 ĐTDĐ Iphone XS Max, màu vàng hồng, đã trả cho chị Trần Thị Hồng Th.
- 01 xe mô tô yamaha Sirius, biển số 47N9-4032 qua xác minh được biết số máy, số khung đã bị mài đục, nên chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp.
- 01 áo sơ mi sọc caro màu trắng đỏ, dài tay ; 01 quần jean dài màu xanh ; 01 thắt lưng màu đen ; 01 mũ lưỡi trai bảo hiểm màu đen bị bể (T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản).
Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKSQ.TP ngày 27 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
- Bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo: thống nhất quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 01/3/2019, tại trước ngôi nhà số 220 đường Lê Trọng T, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh. Nguyễn Anh T đã có hành vi điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 47N9-4032 giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng hồng, trị giá: 22.000.000 đồng) của chị Trần Thị Kiều A. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Vì vậy, Cáo trạng số 124/CT-VKSQ.TP ngày 27/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi nghị án lượng hình cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Tài sản đã kịp thu hồi và trao trả đầy đủ cho chủ sở hữu nên hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo mới 17 tuổi 06 tháng 19 ngày nên còn hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, vì vậy, HĐXX áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự quy định nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng hồng đã thu hồi trả cho người bị hại, chị Trần Thị Kiều A đã nhận lại và không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô yamaha Sirius, biển số 47N9-4032 qua xác minh được biết số máy, số khung đã bị mài đục, nên chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Hội đồng xét xử thiết nghĩ nên tiếp tục giao cho Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 áo sơ mi sọc caro màu trắng đỏ, dài tay ; 01 quần jean dài màu xanh ; 01 thắt lưng màu đen ; 01 mũ lưỡi trai bảo hiểm màu đen bị bể (T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản). Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại vì không còn giá sử dụng, nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng hồng Cơ quan điều tra đã thu hồi trả cho người bị hại chị Trần Thị Kiều Anh là phù hợp.
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội "Cướp giật tài sản".
[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam, ngày 06/9/2019.
[3] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi sọc caro màu trắng đỏ, dài tay ; 01 quần jean dài màu xanh ; 01 thắt lưng màu đen ; 01 mũ lưỡi trai bảo hiểm màu đen bị bể (T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản)..
- Tiếp tục giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh điều tra xử lý theo quy định của pháp luật đối với 01 xe mô tô yamaha Sirius, biển số 47N9-4032.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 106/PNK ngày 04/3/2019 của Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh)
[5] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - VKSND Q.Tân Phú; - THADS quận Tân Phú; - Công an Q.Tân Phú; - P.PC27-CATP. HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Đức Thành |