- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết K phạm tội "Trộm cắp tài sản" năm 2019 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2019/HSPT Ngày 27 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Lệ Thu
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền; ông Bùi Đình Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 89/2019/TLPT - HS ngày 17 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Viết K do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Viết K; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/6/2001; Nơi ĐKHKTT: Xóm Đ, xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Nguyễn Viết K bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2018 đến nay; Có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Viết K: ng Nguyễn Viết H (Bố đẻ); Sinh năm: 1961; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Xóm Đ, xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Viết K: Ông Nguyễn Quốc T; Trợ giúp viên pháp lý công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
* Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị: Phan Phương T, Phan S (Vắng mặt)
* Người bị hại không kháng cáo:
Trư ng Trung học ph thông N; Địa chỉ: Số 78 đư ng Nguyễn T, khối 6, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Đại diện theo ủy quyền: Bà H Thị T; Vắng mặt.
Trư ng trung học cơ sở X; Địa chỉ: Thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Xuân D; Vắng mặt.
Vụ án còn có ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, trưa ngày 21/10/2018, Nguyễn Viết K rủ Phan Phương T và Phan S đến lấy trộm máy chiếu tại phòng thiết bị của trư ng THPT N. Khoảng 23 gi 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 38P1-110.82 của bố đẻ là ông Nguyễn Viết H, mang theo 01 kìm cộng lực, 01 tuốc nơ vít, 02 ba lô và 01 bì xác rắn, đến chở T và S r i đi đến trư ng THPT N. Khi đến khu vực c ng phía sau nhà trư ng, K dựng xe ở phía ngoài r i cả ba ngư i trèo qua tư ng rào, đi đến phòng thiết bị trư ng. K dùng tuốc nơ vít để mở cửa s , sau đó cùng với T dùng tay bẻ cong song cửa s đã bị cắt từ vụ trộm lần trước để tạo khoảng trống cho K chui vào trong phòng. T và S đứng ngoài để cảnh giới. K bê ra 04 máy chiếu g m 03 máy chiếu nhãn hiệu Sony màu trắng đen và 01 máy nhãn hiệu H-Pec màu trắng đen, chuyển qua cửa s cho T và S để bỏ vào các ba lô mang sẵn. Khi nhìn thấy trên trần còn treo 01 chiếc máy chiếu nhãn hiệu Infocus màu đen, K bắc ghế lên bàn r i dùng tuốc nơ vít tháo chiếc máy chiếu này ra, cầm theo 01 chiếc điều khiển máy chiếu có trên bàn và đưa ra để T, S bỏ vào trong ba lô. Sau đó, cả ba về nhà S, cất số máy chiếu lấy trộm được tại phòng ngủ của S. Đến khoảng 14 gi ngày 22/10/2018, T điều khiển xe mô tô biển số 38N3-8340 (xe của dì ruột Nguyễn Thị T đã ủy quyền lại cho bà Nguyễn Thị A quản lý, sử dụng) để chở K đến nhà Sơn lấy 05 máy chiếu đưa vào Thành phố H tiêu thụ. Trên đư ng đi, do vi phạm luật giao thông, K và T bị t tuần tra Phòng Cảnh sát Cơ động tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu dừng xe, kiểm tra. Do không trình bày được ngu n gốc của số máy chiếu có trong 02 ba lô mang theo nên K và T bị t tuần tra đưa về trụ sở để làm việc. Tại đây, K và T đã khai nhận số máy chiếu nói trên là do lấy trộm tại trư ng THPT N. Phòng Cảnh sát Cơ động tỉnh Hà Tĩnh đã bàn giao các đối tượng cùng toàn bộ tang vật kèm theo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C xử lý.
Theo kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 20/11/2018 của Hội đ ng định giá tài sản trong TTHS huyện C thì 05 máy chiếu này có t ng giá trị là 22.500.000 đ ng.
Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Viết K và Phan Phương T còn khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp máy chiếu khác tại trư ng THCS X và trư ng THPT N. Cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Vào chiều ngày 31/01/2018, K rủ T lấy trộm máy chiếu ở trư ng THCS X, Thị trấn N, huyện C. Khoảng 23 gi 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 38P1-110.82, mang theo 01 chiếc ba lô, 01 kìm cộng lực, 01 tuốc nơ vít, chở T đi xuống trư ng THCS X. Đến nơi, K dừng xe mô tô bên ngoài r i cả hai trèo qua tư ng rào đi vào trong trư ng. Tại phòng học thứ nhất, K dùng kìm cộng lực cắt khóa để cả hai ngư i đi vào phòng. K bắc ghế trèo lên bàn r i dùng tuốc nơ vít để tháo xuống 01 máy chiếu nhãn hiệu Panasonic, đưa cho T bỏ vào ba lô. Khi đến phòng học tiếp theo, K tiếp tục dùng kìm cộng lực cắt khóa, T bắc ghế trèo lên bàn r i dùng tuốc nơ vít để tháo xuống 01 máy chiếu nhãn hiệu H-Pec, đưa cho K bỏ vào ba lô. Sau đó, cả hai đưa máy chiếu lấy trộm được về cất giấu tại nhà rơm của gia đình K. Khoảng một tuần sau, K nói với Phan Ngọc S là: “Có bạn tau nh tìm ngư i mua máy chiếu. Mi tìm được ai mua thì hắn cho tiền”. Khoảng ít ngày sau, S nói với K đã liên hệ được việc bán máy chiếu qua Facebook. K điều khiển xe mô tô biển số 38P1-110.82 chở S đưa máy chiếu đến cho ngư i mua (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) và bán với giá 3.500.000 đ ng. K đưa cho S 500.000 đ ng, đưa cho T 1.500.000 đ ng, còn lại 1.500.000 đ ng K đã tiêu xài cá nhân hết.
Theo kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 20/11/2018 của Hội đ ng định giá tài sản trong TTHS huyện C thì 02 máy chiếu này có t ng giá trị là 7.500.000 đ ng.
- Vụ thứ hai: Vào ngày không nhớ trong tháng 5/2018, K rủ S và T đến trư ng THPT N lấy trộm máy chiếu nhưng T từ chối nên chỉ có S và K thực hiện. Khoảng 23 gi 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 38P1-110.82, mang theo 02 chiếc ba lô, 01 kìm cộng lực, 01 tuốc nơ vít, chở Sơn đi đến trư ng THPT N. Khi đến khu vực c ng phía sau nhà trư ng, K dựng xe ở phía ngoài r i cả hai ngư i trèo qua tư ng rào, đi đến phòng thiết bị trư ng. K dùng tuốc nơ vít để mở cửa s , dùng kìm cộng lực để cắt song cửa s , sau đó cùng với S dùng tay bẻ cong song cửa để tạo khoảng trống cho K chui vào trong phòng. S đứng ngoài để cảnh giới. K đi đến dàn đựng thiết bị lấy ra 04 máy chiếu g m 02 máy nhãn hiệu Sony màu màu trắng đen, 01 máy nhãn hiệu H-Pec màu trắng đen và 01 máy nhãn hiệu Infocus màu đen, r i chuyển qua cửa s cho Sơn để bỏ vào các ba lô mang sẵn. K chui ra khỏi phòng và dùng tay bẻ các song cửa s lại như cũ. Sau đó, K và S đưa số máy chiếu lấy trộm được về giấu tại phòng ngủ của S. Khoảng hơn một tuần sau, K nói với Trần Minh C là có ngư i bạn nh K đi bán máy chiếu, nếu bán được thì ngư i bạn đó sẽ cho ít tiền và rủ C đi cùng, C đ ng ý. K điều khiển xe mô tô biển số 38P1-110.82 chở C đến nhà S lấy 04 máy chiếu trộm được trước đó r i đi vào Thành phố H để tiêu thụ. Khi đến cửa hàng máy tính của anh Trần Tiến T, K nói với anh T rằng số máy chiếu đó là của cậu K, nh K đi bán hộ. Sau khi kiểm tra chất lượng máy chiếu, anh T đ ng ý mua với giá 3.600.000 đ ng. Số tiền này K dùng 100.000 đ ng để đ xăng, đưa cho C 500.000 đ ng, đưa cho S 1.500.000 đ ng, còn lại 1.500.000 đ ng K đã tiêu xài cá nhân hết.
Theo kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 20/11/2018 của Hội đ ng định giá tài sản trong TTHS huyện C thì 04 máy chiếu này có t ng giá trị là 13.000.000 đ ng.
T ng giá trị tại th i điểm bị chiếm đoạt của 11 chiếc máy chiếu mà các bị cáo đã trộm cắp của trư ng THPT N và THCS X là 43.000.000 đ ng.
Với hành vi trên, Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã Quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Viết K, Phan Phương T, Phan S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; tiết thứ hai điểm b, điểm s, điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Viết K 16 (mư i sáu) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn xử phạt Phan Tây P 14 (mư i bốn) tháng tù cho hưởng án treo, Phan S 10 (mư i) tháng tù cho hưởng án, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 10/6/2019 bị cáo Nguyễn Viết K kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo
Ngư i đại diện hợp pháp, ngư i bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét nhân thân, hoàn cảnh gia đình, tu i đ i bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa, tu dưỡng bản thân để trở thành ngư i có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nhân thân, hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo hoàn toàn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đ ng phạm là: Trong khoảng th i gian từ tháng 01/2018 đến tháng 10/2018 do cần tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo Nguyễn Viết K, Phan S và Phan Phương T đã lén lút thực hiện 03 vụ trộm cắp, lấy được 11 máy chiếu các loại có t ng trị giá 43.000.000 đ ng của trư ng THCS X và trư ng THPT N. L i nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, phù hợp với th i gian, địa điểm phạm tội, vật chứng thu giữ, phù hợp l i khai ngư i bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh trong nhân dân, xâm phạm đến quyền về tài sản của ngư i khác được pháp luật bảo vệ. Do đó bản sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện huyện C, tỉnh Hà Tĩnh xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với mức hình phạt 16 (mư i sáu) tháng tù là đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Tuy nhiên Hội đ ng xét xử thấy rằng: Bị cáo tu i đ i còn trẻ, th i điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 16 tu i 07 tháng 11 ngày nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội đã tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình tự nguyện b i thư ng thiệt hại cho ngư i bị hại, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cơ trú rõ ràng và ngư i bị hại đề nghị đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy để thể hiện tính nhân đạo, khoan h ng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình mà không phải cách ly khỏi đ i sống xã hội cũng đủ nghiêm.
. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội bị cáo kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết K, sửa bản án sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; tiết thứ hai điểm b, điểm s, điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Viết K 16 (mư i sáu) tháng tù cho hưởng án treo, th i gian thử thách 32 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm
Giao bị cáo Nguyễn Viết K cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách.
Trong th i gian thử thách, nếu ngư i được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trư ng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngư i đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và t ng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trong th i gian thử thách nếu ngư i được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Viết Khâm không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TA, VKS, CA, THA huyện C; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Phòng PV 27 CA tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Lệ Thu |