- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phan Xe E - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? C n cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự n m; Điều 54 Bộ luật hình sự n m
| c | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2019/HS-PT Ngày: 30-5-2019 |
NHÂN DANH
ƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH
V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T
NG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước
Các thẩm phán:
Ông Trương Phước Tự
Ông Đinh Chí Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn V n Tr i – Thư Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 n m 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự phúc th m thụ lý số: 99/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 n m 2019 đối với bị cáo E.
Do có háng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ th m số 03/2019/HSST ngày 13 tháng 3 n m 2019 của Tòa án nhân dân huyện C.
- Bị cáo có kháng cáo:
E, sinh n m: 1990; Tên gọi khác: T; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi đ ng HKTT và chỗ ở: ấp 5, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Cha tên: Phan V n Đ, sinh n m: 1965; Mẹ tên: Lê Thị H, sinh n m: 1964; Gia đình có 09 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Tạm giữ: Từ ngày 23-11-2018 đến ngày 01-12-2018 cho tại ngoại; Tạm giam: Không; Bị cáo E đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn Cấm đi hỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
Ngoài ra bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
V
:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:
E và chị Trần Thị Ngọc N có quan hệ họ hàng với nhau nhưng giữa 02 người đ có mâu thuẫn từ trước. Khoảng 10 giờ ngày 21/12/2018 chị N cùng mẹ là bà Lê Thanh D, anh ruột tên Trần V n Hữu T cùng chồng tên Nguyễn Thanh L đến nhà E để nói chuyện nhưng cha, mẹ E không cho E ra gặp. Lúc này, giữa chị N cùng người thân trong gia đình xảy ra cự cãi với cha, mẹ của E. Phía chị N có dùng gạch và tuy phuộc xe ném vào nhà E, sau đó bỏ về.
Đến khoảng 20 giờ 30 ngày 22/11/2018, sau khi uống rư u xong E nhớ đến sự việc trên nên về nhà lấy con dao yếm bằng kim loại dài 35cm, nơi rộng nhất là 7cm để lên ba ga xe mô tô biển số 66F1-52389 chạy đến nhà của chị N ngụ ấp 5, xã P, huyện C để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến nơi, E thấy chị N đang ngồi đan lục bình trước cửa nhà nên dừng xe lại cặp đường lộ đal nông thôn cự cãi nhau với chị N. Trong lúc cự cãi, chị N vào trong nhà lấy một cái ghế đôn bằng gỗ đánh trúng phần đầu E một cái. Liền lúc này, E bước xuống xe thì bị chị N tiếp tục dùng ghế đánh trúng vùng lưng. E dùng tay giật lấy đư c ghế của chị N đánh trả lại nhiều cái vào người của N rồi ném bỏ ghế tại hiện trường. Sau đó, E lấy con dao yếm để trên ba ga xe dùng tay trái cầm dao chém một nhát trúng vùng trán của N một cái, chị N nhàu đến giành lấy con dao trên tay E, hai bên giằng co qua lại một lúc. Ngay lúc này, các anh L, T ở cùng xóm chạy đến can ng n thì E dừng lại đi đến Công an xã P để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Riêng chị N đư c gia đình đưa đi đến Bệnh viện Đa hoa tỉnh Đồng Tháp khâu vết thương, sau đó về nhà.
Vật chứng thu giữ gồm 01 con dao yếm bằng kim loại có một bề s t bén dài 35cm là hung khí gây án, 01 cái ghế bằng gỗ có 04 chân (ghế đôn) do anh Đỗ Phú T giao nộp.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 381/TgT ngày 29-11-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận thương tích của Trần Thị Ngọc N: Vết thương phần mềm vùng trán phải ảnh hưởng th m mỹ do vật s c nhọn tác động; vết thương phần mềm và xây xát da vùng đỉnh ch m trái sau vành tai phải, cổ tay phải do vật tày tác động. Tỷ lệ tổn thương của cơ thể tại thời điểm giám định là 13%.
Trong quá trình điều tra, E và chị N đ tự nguyện thỏa thuận với nhau bồi thường tất cả các khoản chi phí như tiền thuốc điều trị, tiền công lao động tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 5.836.000 đồng. Hiện tại, chị N đ nhận đủ, không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 07/CT-VKSHCL ngày 29/01/2019 của Viện iểm sát nhân dân huyện C và tại phiên t a sơ th m đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ hoản 2 Điều 134; điểm b và s hoản 1, hoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật hình sự n m 2015 đư c sửa đổi bổ sung n m 2017. Xử phạt bị cáo E với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Tại bản án hình sự sơ th m số: 03/2019/HSST ngày 13/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C đ xử:
Tuyên bố bị cáo E phạm tội “Cố gây thương tích”.
C n cứ vào điểm đ hoản 2 Điều 134; điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017.
Xử phạt bị cáo E 01 n m tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt. Nhưng đư c trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2018 đến ngày 01/12/2018.
- Về trách nhiệm dân s : Không xem xét, giải quyết
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 24 tháng 3 n m 2019, bị cáo E có đơn háng cáo với nội dung xin đư c hưởng án treo.
Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội đư c quy định tại điểm đ, hoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 2 n m đến 6 n m nhưng T a án cấp sơ th m đ xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ để áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử 01 n m tù là thỏa đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin đư c hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ th m.
Bị cáo trình bày: Bị cáo không bào chữa mà chỉ xin đư c hưởng án treo để tiếp tục lao động phụ giúp gia đình.
C n cứ vào các chứng cứ, tài liệu đ đư c th m tra tại phiên tòa phúc th m; c n cứ vào kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo.
:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo E đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đ truy tố. Do có mâu thuẫn cá nhân với chị Trần Thị Ngọc N nên vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/11/2018, tại ấp 5, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo E có hành vi là sử dụng dao yếm bằng kim loại bề s c bén dài 35cm chém vào người của chị Trần Thị Ngọc N gây thương tích, với tỷ lệ thương tật 13%. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm đ hoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
[2] Xét yêu cầu háng cáo của bị cáo xin đư c hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy. T a án cấp sơ th m đ xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt mà án sơ th m đ tuyên là phù h p với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đ cân nh c, xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. T a án cấp sơ th m đ áp dụng Điều 54 để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của hung hình phạt.
Bị cáo háng cáo xin hưởng án treo, tại phiên t a bị cáo không xuất trình đư c tình tiết nào mới, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến sức hỏe của chị N, thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo, muốn sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn thể hiện qua việc bị cáo mang theo dao đến nhà bị hại để giải quyết mâu thuẫn.
T a án cấp sơ th m xét xử bị cáo với mức hình phạt 01 n m tù là phù h p. Do đó Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu xin đư c hưởng án treo của bị cáo.
[3] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù h p nên chấp nhận.
[4] Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo hông đư c chấp nhận, nên bị cáo chịu án phí hình sự phúc th m.
Các phần còn lại của Bản án hình sự sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Q YẾ
:
C n cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo E.
Giữ nguyên Quyết định của bản án hình sự sơ th m về hình phạt.
Tuyên bố bị cáo E phạm tội “Cố gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ hoản 2 Điều 134; điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017.
Xử phạt bị cáo E 01 n m tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt. Nhưng đư c trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 23/11/2018 đến ngày 01/12/2018.
Các phần hác của quyết định bản án sơ th m hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Về án phí phúc th m: Bị cáo E phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc th m.
Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
N i nh n:
T M
M
- VKSND Tỉnh;
t
| - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - TAND – VKSND huyện C; - Chi cục thi hành án huyện C; - Cơ quan CSĐT Công an huyện C; - Trại Tạm giam Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án Tr i). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã ký Lê Hồng ước |