vanban.org

Bản án 127/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Vì Văn N: 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, giữ: 01/06/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vì Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự sơ thẩm: Vì Văn N , phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2018/HSST
Ngày 27/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Toµ ¸n nh©n d©n thµnh phè S¬n La, TØnh S¬n La

- Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lò Thị Dung;

2. Ông Quàng Văn Pậu.

- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2018/HSST ngày 13/9/2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/HSST-QĐ ngày 14/9/2018 đối với bị cáo:

Vì Văn N (tên gọi khác: không), sinh ngày 04/02/1991, tại huyện V, tỉnh Y; Nơi đăng ký NKTT: Bản T, xã H, huyện V, tỉnh Y; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bị cáo con ông Vì Văn T, sinh năm 1968 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1968; có vợ là Đồng Thị K, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 01/06/2018 đến nay, bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06h 30 phút, ngày 01/6/2018, Vì Văn N đến khu vực tổ 11, phường Q, Thành phố Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, N đã gặp và hỏi mua được của 01 người nam giới (không biết cụ thể họ, tên, tuổi, địa chỉ ở đâu) 01 gói heroine với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, N cất số ma túy vừa mua được vào túi quần đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đi được khoảng 1 đoạn thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng 01 gói giấy bạc bên trong có chứa cục bột màu trắng (do N tự giác giao nộp và khai nhận đó là heroine).

Ngày 01/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc, mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định. Kết quả: số cục bột màu trắng có tổng khối lượng 0,29 gam. Lấy 0,11 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy, ký hiệu VN; còn lại 0,18 gam lưu kho, ký hiệu VN1 (BL05).

Ngày 01/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Quyết định trưng cầu giám định số 770/QĐ, đối với mẫu gửi giám định kí hiệu VN có phải là chất ma túy không? Loại chất ma túy gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? tổng khối lượng số ma túy thu giữ?

Kết luận giám định số 683 ngày 05/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu VN là chất ma túy; Loại chất heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,29 gam loại chất heroine”.

Tại bản cáo trạng số: 103/CT-VKSTP ngày 12/09/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Vì Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Vì Văn N từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vì Văn N.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam heroine đã niêm phong.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả cân tịnh vật chứng, kết luận giám định; nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nhất trí với bản luận tội cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phần tranh luận; bị cáo tỏ ra ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn N đều có lời khai nhận tội thống nhất với nội dung đã cất giữ 0,29 gam heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập hồi 7 giờ 45 phút ngày 01/6/2018, tại khu vực tổ 11, phường Quyết Tâm, Thành phố Sơn La đối với Vì Văn N cùng vật chứng thu giữ là 0,29 gam cục bột màu trắng kết luận giám định là heroine. Đồng thời phù hợp với lời khai của Lê Đình Q người đã chứng kiến Cơ quan điều tra bắt quả tang đối với Vì Văn N.

Với các căn cứ chứng minh trên đã có đủ cơ sở kết luận, ngày 01/6/2018 bị cáo Vì Văn N đã có hành vi cất giữ trái phép 0,29 gam ma túy, là chất heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi tàng trữ phép chất ma túy bị cáo đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức cũng như điều khiển hành vi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c,… heroine …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, tuy nhiên không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối hận. Do đó bị cáo Vì Văn N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật, Héi ®ång xÐt xö thÊy cần thiết xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo biện pháp cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn là đối tượng nghiện chất ma túy, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,18 gam heroine còn lại sau giám định cùng vỏ bao vật chứng đã niêm phong đúng quy định của pháp luật, cần tịch thu tiêu huỷ.

Liên quan trong vụ án này: Có người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng bị cáo Vì Văn N không quen biết người này. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Vì Văn N: 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, giữ: 01/06/2018.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vì Văn N.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi "Vật chứng lưu kho vụ Vì Văn N. SN 1991. Tàng trữ trái phép chất ma túy. bắt ngày 01/06/2018 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + mảnh giấy bạc + mẫu lưu kho ký hiệu VN1= 0,18 gam” mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/9/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Vì Văn N phải nộp 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Kháng cáo: Bị cáo Vì Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/9/2018./.

Cỡ chữ