vanban.org

Bản án 127/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Bùi Thị H phải chịu 200.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày bản án được giao cho hoặc niêm yết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Bùi Thị H phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2018/HS-ST
Ngày 29-11-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cương

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134 ngày 23 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Thị H sinh năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B và bà Nguyễn Thị M; có chồng và 02 con; tiền án: Bản án số 134 ngày 01/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt là 12.250.000 đồng, chưa thi hành bản án, chưa xóa án tích; bản án số 01 ngày 10/01/2018, TAND huyện Thủy Nguyên xử phạt 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.890.000 đồng, chưa thi hành bản án, chưa xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2018 đến ngày 26/10/2018 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại:

Anh Lưu Văn H sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn 7, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 24/10/2018, Bùi Thị H điều khiển xe mô tô BKS 16L2-6842 đến cửa hàng N do anh Lưu Văn H, sinh năm 1970, ở thôn 7 xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng làm chủ để mua hàng. Tại đây, H quan sát thấy 01 hòm tôn đựng tiền đặt tại bàn trong phòng khách nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng lúc không có ai để ý, H lấy 01 cọc tiền gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng được buộc băng dây cao su cầm ở tay phải định đi khỏi cửa hàng thì bị chị Đào Thị H, huyện T phát hiện, hô hoán. Thấy vậy H ném cọc tiền cầm trên tay vào gầm cầu thang, anh H nhặt lên kiểm đếm cọc tiền gồm 24 tờ tiền polyme mệnh giá 50.000 đồng (bằng 1.200.000 đồng) rồi báo tin cho Công an xã Hoà Bình đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Về nhân thân, Bùi Thị H có 02 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích.

Tại Cơ quan điều tra, anh H khai như nội dung nêu trên, Hiện tại gia đình anh H đã nhận lại số tiền trên và không yêu cầu bồi thường.

Tại Cơ quan điều tra qua xét hỏi, Bùi Thị H khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/CT-VKS ngày 19 tháng 11 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng đã truy tố Bùi Thị H về tội "Trộm cắp tài sản" theo Điểm b Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội và đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã truy tố: Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị H từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án số 01/2018/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản, thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo. Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn nhận được sự khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Thị H khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Do không có tiền ăn tiêu nên Bùi Thị H đã nảy sinh ý định đi trộm cắp. Cụ thể bị cáo đã dùng thủ đoạn lợi dụng lúc không có ai để ý, bị cáo đã vào nhà anh Lưu Văn Hlấy 01 cọc tiền gồm 24 tờ polyme mệnh giá 50.000 đồng bằng 1.200.000 đồng và bị bắt quả tang. Do đó hành vi phạm tội này của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần thiết phải có hành phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại gây ra không lớn là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, h Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Với phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo với mức án gần bằng mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, nhưng bị cáo không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không phạt tiền bị cáo.

Về dân sự: Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện người bị hại đã nhận lại đầy đủ số tiền nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, h, khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị H 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Tổng hợp với hình phạt 48 tháng tù chưa chấp hành của bản án số 01/2018/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 72 (Bảy mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Bùi Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày bản án được giao cho hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- Người bị hại;

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;

- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;

- TAND thành phố Hải Phòng;

Nguyễn Văn Cƣơng

- Công an thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

CCáácc HHộộii tthhẩẩmm nnhhâânn ddâânn

TThhẩẩmm pphháánn -- CChhủủ ttooạạ pphhiiêênn ttooàà DDooããnn VVăănn SSáánngg

ĐĐồồnngg XXuuâânn DDũũnngg

NNgguuyyễễnn VVăănn CCưươơnngg Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người bị hại;

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;

- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Công an thành phố Hải Phòng;

Nguyễn Văn Cƣơng

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

CCáácc HHộộii tthhẩẩmm nnhhâânn ddâânn

TThhẩẩmm pphháánn -- CChhủủ ttooạạ pphhiiêênn ttooàà DDooããnn VVăănn SSáánngg

PPhhạạmm CCôônngg HHạạ

NNgguuyyễễnn VVăănn CCưươơnngg

Cỡ chữ