vanban.org

Bản án 127/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV H VN.

Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH MTV H VN số tiền 22.465.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) trong đó vốn gốc là 16.942.651 đồng (mười sáu triệu chín trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi mốt đồng), lãi là 4.518.349 đồng (bốn triệu năm tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công Ty HC VN - Phạm Thị N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV H VN.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2017/DS-ST
Ngày: 29-12-2017
V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vạn

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lân – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 441/2016/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2016 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 405/2017/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 313/2017/QĐST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV H VN;

Địa chỉ: 473 Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lại Văn Đ – Chuyên viên pháp lý (Giấy ủy quyền số 2301274266/2016/GUQ ngày 21/10/2016)

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1956;

Địa chỉ: D20/19B ấp 4A, xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Đ có mặt tại phiên tòa, bà N vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/7/2016 của Công ty tài chính TNHH MTV H VN và tại phiên tòa ông Lại Văn Đlà người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/12/2013 Công ty TNHH MTV tài chính P VN (nay là Công ty Tài chính TNHH MTV tài chính H) (sau đây viết tắt là Công ty H) và bà Phạm Thị N thỏa thuận ký kết hợp đồng tín dụng trả góp số 2301274266 với nội dung bà Phạm Thị N vay của Công ty H số tiền 27.305.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm lẻ năm ngàn đồng), thời hạn vay 18 tháng, lãi suất 6%/tháng. Bà N sẽ thanh toán tiền cho Công ty H theo phương thức trả góp hàng tháng vào ngày 10 (dương lịch) với số tiền là 2.535.000 đồng, bắt đầu từ ngày 10/01/2014. Tổng số tiền lãi, gốc và phí mà bà N phải thanh toán Công ty H là 45.630.000 đồng (bốn mươi lăm triệu sáu trăm ba mươi ngàn đồng). Ngoài ra các bên có thỏa thuận nếu bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì phải chịu một khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng.

Sau khi ký hợp đồng, Công ty H đã giao đủ tiền cho bà N. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 07/01/2015 bà N đã thanh toán cho Công ty H tổng số tiền 24.565.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) trong đó, vốn gốc là 10.362.349 đồng, lãi là 13.572.651 đồng, phí thu hộ ngân hàng 10 tháng là 130.000 đồng và 500.000 tiền phạt. Kể từ ngày 07/01/2015 cho đến nay bà N không tiếp tục thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty H. Tổng số tiền bà N còn phải thanh toán là 21.565.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi lăm ngàn đồng). Công ty đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu bà N thanh toán nợ nhưng bà N trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

Do đó, Công ty H yêu cầu bà Phạm Thị N thanh toán số tiền 22.465.000 đồng gồm 21.065.000 đồng tiền góp hàng tháng bà N còn nợ, 900.000 đồng tiền phạt vi phạm hợp đồng. Yêu cầu bà N thanh toán toàn bộ số tiền một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa ông Đồng đại diện cho Công ty H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, ông Đồng đại diện nguyên đơn không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Phạm Thị N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử Nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Qua các tài liệu chứng cứ mà đương sự giao nộp và các chứng cứ Tòa án thu thập thì có cơ sở xác định giữa Công ty H với bà Phạm Thị N có ký hợp đồng tín dụng để vay số tiền là 27.305.000 đồng, thời hạn vay là 18 tháng theo phương thức trả góp mỗi tháng 2.535.000 đồng. Đến cuối kỳ, bà N phải thanh toán tổng cộng là 45.630.000 đồng. Sau khi vay tiền, bà N đã thanh toán được số tiền 24.465.000 đồng, hiện còn nợ số tiền 21.565.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N không đến Tòa án tham gia tố tụng cũng như không đưa ra ý kiến phản bác đối với yêu cầu của nguyên đơn vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xác nhận bà N đã thanh toán cho Công ty H số tiền 24.465.000 đồng, còn nợ lại số tiền 21.565.000 đồng chưa thanh toán và tiền phạt vi phạm số tiền 900.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị N phải trả cho Công ty H số tiền 22.465.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn đồng), bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Công ty H khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Phạm Thị N. Theo kết quả xác minh ngày 05/6/2017 của Công an xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Phạm Thị N vẫn còn sinh sống tại địa chỉ D20/19B ấp 4A, xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Phạm Thị N đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà N là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân năm 2015.

Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực, nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.

Bà Phạm Thị N đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của Công ty H nhưng bà N không đến Tòa án trình bày ý kiến, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử theo quy định mà vắng mặt không có lý do. Bà N đã tự từ bỏ quyền chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do đại diện nguyên đơn cung cấp và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để giải quyết vụ án.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bản tự khai và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Công ty H tại phiên tòa thì có cơ sở xác định ngày 10/12/2013 bà Phạm Thị N có vay tiền của Công ty TNHH MTV P VN(nay là Công ty H) số tiền 27.305.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm lẻ năm ngàn đồng); mục đích vay để tiêu dùng; lãi suất 06%/tháng, thời hạn vay 18 tháng. Phương thức trả nợ: trả góp vào ngày 10 (dương lịch) hàng tháng, mỗi tháng trả 2.535.000 đồng (hai triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn đồng) trong đó bao gồm 13.000 đồng (mười ba ngàn đồng) phí ngân hàng thu hộ; tổng số tiền phải thanh toán là 45.630.000 đồng (bốn mươi lăm triệu sáu trăm ba mươi ngàn đồng) gồm: vốn gốc là 27.305.000 đồng, lãi là 18.091.000 đồng và phí ngân hàng thu hộ là 234.000 đồng.

Theo quy định tại điểm (ii) khoản 6.1 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng trả góp số 2301274266 ngày 10/12/2013 thì bà Phạm Thị N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền vay đối với Công ty H.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của Công ty H xác nhận bà Phạm Thị N đã trả nợ được tổng số tiền 24.565.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) trong đó: vốn gốc là 10.362.349 đồng, lãi là 13.572.651 đồng, phí ngân hàng thu hộ 10 tháng là 130.000 đồng và 500.000 đồng tiền phạt. Bà Phạm Thị N còn nợ lại số tiền là 21.565.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi lăm ngàn đồng), trong đó: nợ gốc là 16.942.651 đồng, lãi là 4.518.349 đồng, phí ngân hàng thu hộ là 104.000 đồng. Bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn vay và tiền lãi, vì vậy Công ty H yêu cầu trả tiền vốn gốc và lãi còn nợ của hợp đồng tín dụng trả góp là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty H.

Đối với yêu cầu trả tiền phạt vi phạm là 900.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: theo khoản 6.2 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng trả góp số 2301274266 ngày 10/12/2013 các bên thỏa thuận trường hợp bên vay vi phạm bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào quy định tại hợp đồng này thì bên vay sẽ bị phạt vi phạm với mức phạt như sau: “(i) 250.000 đồng nếu bên vay không thực hiện hoạc không thực hiện đầy đủ bất kỳ nghĩa vụ nào của hợp đồng kề từ ngày thứ tư (04) sau ngày đến hạn thựa hiện nghĩa vụ đó; và (ii) 450.000 đồng nếu bên vay không thực hiện hoạc không thực hiện đầy đủ bất kỳ nghĩa vụ nào của hợp đồng kề từ ngày thứ ba mươi (30) sau ngày đến hạn thựa hiện nghĩa vụ đó; và 650.000 đồng nếu bên vay không thực hiện hoạc không thực hiện đầy đủ bất kỳ nghĩa vụ nào của hợp đồng kề từ ngày thứ sáu mươi (60) ngày đến hạn thực hiện nghĩa vụ đó.”

Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bà N đã vi phạm vào khoản 6.2 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng trả góp số 2301274266 ngày 10/12/2013. Do đó, bà N phải thanh toán số tiền phạt vi phạm cho Công ty H là 1.350.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của Công ty H chỉ yêu cầu bà N phải trả tiền phạt vi phạm cho Công ty H số tiền là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng), đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định tại các Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm trả cho Công ty H số tiền 22.465.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) trong đó vốn gốc là 16.942.651 đồng (mười sáu triệu chín trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi mốt đồng), lãi là 4.518.349 đồng (bốn triệu năm trăm mười tám ngàn ba trăm bốn mươi chín đồng), phí ngân hàng thu hộ là 104.000 đồng (một trăm lẻ bốn ngàn đồng) và phạt vi phạm là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Nếu bà N chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo án tuyên thì bà N còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể, bà Phạm Thị N phải chịu 1.123.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV H VN.

2. Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH MTV H VN số tiền 22.465.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) trong đó vốn gốc là 16.942.651 đồng (mười sáu triệu chín trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi mốt đồng), lãi là 4.518.349 đồng (bốn triệu năm trăm mười tám ngàn ba trăm bốn mươi chín đồng), phí ngân hàng thu hộ là 104.000 đồng (một trăm lẻ bốn ngàn đồng) và phạt vi phạm là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng), theo phương thức trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Trường hợp bà N chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo án tuyên thì bà N còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Các bên giao nhận tiền tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về án phí:

5.1. Bà Phạm Thị N chịu 1.123.250 đồng (một triệu một trăm hai mươi ba ngàn hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5.2. Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH MTV H VN số tiền 561.625 đồng (năm trăm sáu mươi mốt ngàn sáu trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0020692 ngày 22/8/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ