- Tranh chấp gì? án hành chính — "Ngô Thị Ng-Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H"
- Căn cứ chính? Điều 1 Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND Quy định về diện tích tối thiể…; Điều 1 Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND Quy định diện tích tối thiểu đ…; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! THÀNH!PHỐ!H. ————————! Bản án số: 1264/2020/HC-ST Ngày: 18-8-2020 V/v khiếu kiện |
hành vi hành chính.
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!H.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Phạm Thị Thu Hải!
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1/ Ông Lê Giáo
2/ Bà Võ Thị Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoài Phương là Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H..
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H. tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 tháng 8 năm 2020 và ngày 18 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H. xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 381/2018/TLST-HC ngày 19 tháng 11 năm 2018 về việc “Khiếu"kiện"hành"vi" hành"chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3586/2020/QĐXXST-HC ngày 17 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:" Bà Ngô Thị Ng. (sinh năm 1951, chết ngày 12/6/2019).
Địa chỉ thường trú: Số 265/6, đường Nguyễn Thị Đ., khu phố 4, phường Bình Trưng T., Quận 2, Thành phố H..
Người" đại" diện" hợp" pháp" của" người" khởi" kiện:" Ông Trần B., sinh năm 1992, địa chỉ: Thiện Nghiệp, thành phố Phan Th., tỉnh Bình T., là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền có công chứng số 012100 ngày 18/9/2018 của Văn phòng Công chứng Lê Văn Dũng).
Người"kế"thừa"quyền,"nghĩa"vụ"tố"tụng"của"người"khởi"kiện:"
1- Bà Cao Thị Hồng Nh., sinh năm 1975
2- Ông Phạm Văn T., sinh năm 1982
3- Ông Phạm Minh V., sinh năm 1984
4- Bà Phạm Thị Thủy Tr., sinh năm 1988
Cùng địa chỉ: Số 265/6, đường Nguyễn Thị Đ., khu phố 4, phường Bình Trưng T., Quận 2, Thành phố H..
5- Bà Phạm Thị Thiên N., sinh năm 1979
Địa chỉ: Số 265/7, đường Nguyễn Thị Đ., khu phố 4, phường Bình Trưng T., Quận 2, Thành phố H..
Người" đại" diện" hợp" pháp" của" những" người" kế" thừa" quyền," nghĩa" vụ" tố" tụng"của"người"khởi"kiện:"Ông Trần B., sinh năm 1992, địa chỉ: Thiện Nghiệp, thành phố Phan Th., tỉnh Bình T., là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền có công chứng số 013180 ngày 23/10/2019 của Văn phòng Công chứng Lê Văn Dũng).
- Người bị kiện:" Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H..
Địa chỉ: Số 12, đường Phan Đăng Lưu, Phường 7, quận Bình Th., Thành phố H..!
Người"đại"diện"hợp"pháp"của"người"bị"kiện:
Ông Dư Huy Q., chức vụ Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố, là người đại diện theo pháp luật (cũ).
Bà Bùi Thị Bích T., chức vụ Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố, là người đại diện theo pháp luật (mới).
Người"bảo"vệ"quyền,"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện:!
Bà Huỳnh Thị Hồng V., chức vụ: Chuyên viên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Quận 2 (Theo văn bản số 8684/VPĐK-T.TCD ngày 12/7/2019 của Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố do giám đốc ông Dư Huy Q. ký)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1- Ông Lê Văn Hải, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số 265/5, đường Nguyễn Thị Đ., khu phố 4, phường Bình Trưng T., Quận 2, Thành phố H..
2- Bà Phạm Thị Thiên N., sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số 265/7, đường Nguyễn Thị Đ., khu phố 4, phường Bình Trưng T., Quận 2, Thành phố H..
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Trong"đơn"khởi"kiện"nộp"tại"Tòa"án"vào"ngày"11/6/2018"cũng"như"lời"khai" trong"quá"trình"giải"quyết"vụ"án"và"tại"phiên"tòa"sơ"thẩm,"người"khởi"kiện"bà" Ngô"Thị"Ng."và"những"người"kế"thừa"quyền,"nghĩa"vụ"tố"tụng"của"người"khởi" kiện"có"người"đại"diện"hợp"pháp"là"ông"Trần"B."trình"bày:"
Cùng ngày 11/11/2013, bà Ngô Thị Ng. chuyển nhượng cho ông Lê Văn Hải phần đất có diện tích 53,5m2 tại một phần thửa đất số 671, tờ 42 (theo tài liệu năm 2003), phường Bình Trưng T., quận 2; và bà Ngô Thị Ng. có tặng cho bà Phạm Thị Thiên N. phần nhà có diện tích sàn xây dựng 72,6m2 và đất có diện tích 45,2m2 tại một phần thửa đất số 671, tờ 42 (theo tài liệu năm 2003), phường Bình Trưng T., quận 2 (Chưa nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận).
Sau đó các bên tiến hành thủ tục đăng bộ. Ngày 03/3/2014, Văn phòng Đăng ký QSDĐ có Công văn số 837/VPĐK hoàn trả hồ sơ (lần 1) do đang nợ tiền sử dụng đất. Ngày 31/7/2015, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh Quận 2 có Công văn số 204/VPĐKĐĐ hoàn trả hồ sơ (lần 2) do thửa đất còn lại của bà Ngô Thị Ng. (tức"là"thửa"đất"đã"tặng"cho"bà"Nga) nhỏ hơn 50m2 (không đủ điều kiện tách thửa). Ông Hải nhờ bà Ngày đứng tên giùm, ông Hải đầu tư xây dựng toàn bộ công trình.
Do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh quận 2 không thực hiện kiểm tra nội nghiệp Bản vẽ sơ đồ nhà - đất số 912/TP/17 do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại Đo đạc Tạ Phú lập ngày 27/12/2017, nên bà Ngày, ông Hải, bà Nga có Đơn đề nghị xem xét vào ngày 08/3/2018 và ngày 19/4/2018 và đã được trả lời theo 02 Văn bản trên.
Bà Ngô Thị Ng. nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Công văn số 598/CNQ2 ngày 05/4/2018 và số 845/CNQ2 ngày 14/5/2018 của Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh quận 2.
Người khởi kiện xác định tư cách người bị kiện trong vụ án này là Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H., địa chỉ: 12 Phan Đăng Lưu, phường 7, quận Bình Th., Thành phố H.. Quyết định hành chính bị khiếu kiện là hai Công văn số 598/CNQ2 ngày 05/4/2018 và số 845/CNQ2 ngày 14/5/2018 của Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh quận 2. Hành vi hành chính bị khiếu kiện là không thực hiện kiểm tra nội nghiệp Bản vẽ sơ đồ nhà - đất số 912/TP/17 do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại Đo đạc Tạ Phú lập ngày 27/12/2017 và không thực hiện thủ tục tách thửa, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNỞ & TSKGLVĐ của Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh quận 2 theo quy định pháp luật.
Lý do yêu cầu hủy là do trường hợp chuyển nhượng của bà Ngô Thị Ng., ông Lê Văn Hải và bà Phạm Thị Thiên N., không áp dụng điều kiện (diện tích) tách thửa theo Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của UBND thành phố để giải quyết, mà phải áp dụng Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND ngày 15/10/2014 của UBND thành phố, vì:
Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Điều"156."Áp"dụng"văn"bản"quy"phạm"pháp"luật"
" 1." Văn" bản" quy"phạm"pháp" luật"được"áp" dụng"từ"thời"điểm"bắt"đầu" có" hiệu"lực."
" Văn"bản"quy"phạm"pháp"luật"được"áp"dụng"đối"với"hành"vi"xảy"ra"tại"thời" điểm"mà"văn"bản"đó"đang"có"hiệu"lực."Trong"trường"hợp"quy"định"của"văn"bản" quy"phạm"pháp"luật"có"hiệu"lực"trở"về"trước"thì"áp"dụng"theo"quy"định"đó.
Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ngô Thị Ng., ông Lê Văn Hải và bà Phạm Thị Thiên N. vào thời điểm Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 25/02/2009 của UBND thành phố đang có hiệu lực thi hành.
- Tại khoản 1, Điều 4 Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND:
1." Những" trường" hợp" hộ" gia" đình," cá" nhân" có" hoàn" cảnh" đặc" biệt" khó" khăn"hoặc"khi"thừa"kế,"hòa"giải"tranh"chấp,"có"nhu"cầu"tách"thửa,"Ủy"ban"nhân" dân"quận,"huyện,"căn"cứ"quy"hoạch,"hạ"tầng"kỹ"thuật"đô"thị,"điều"kiện"để"hợp" khối,"cảnh"quan"khu"vực"và"quy"chuẩn"xây"dựng"để"giải"quyết"(nhưng"diện"tích" tối"thiểu"của"các"thửa"đất"hình"thành"không"nhỏ"hơn"25m2"đối"với"trường"hợp" đất"ở)."
" Thực tế đã chứng minh điều kiện:
- Đã phát sinh thừa kế (do bà Ngô Thị Ng. chết);
- Hòa giải tranh chấp: đã phát sinh tranh chấp giữa ông Lê Văn Hải và bà Ngô Thị Ng. theo Thông báo số 205/2017/TLST-DS ngày 03/10/2017 của Tòa án nhân dân Quận 2 và 02 bên đã có thỏa thuận tại Biên bản làm việc ngày 12/12/2017 và Tòa án nhân dân Quận 2 đã có Quyết định số 155/2017/QĐST-DS ngày 12/12/2017 về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
- Nhà, đất mà ông Hải, bà Nga đang sử dụng phù hợp quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và cảnh quan khu vực.
- Diện tích tối thiểu lớn hơn 25m2.
Việc xem xét giải quyết điều kiện cụ thể để tách thửa, UBND thành phố đã có chỉ đạo xuyên suốt từ Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND, Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND.
Đồng thời:
Căn cứ theo điểm g, khoản 2, Điều 1 Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND: “Khi"cấp"giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản" khác"gắn"liền"với"đất"đối"với"thửa"đất"ở"đã"hình"thành"trước"ngày"25"tháng"10" năm"2014"(ngày"Quyết"định"số"33/2014/QĐ-UBND"ngày"15"tháng"10"năm"2014" của"Ủy"ban"nhân"dân"thành"phố"có"hiệu"lực"thi"hành"-"dưới"đây"viết"tắt"là"Quyết" định"số"33/2014/QĐ-UBND)"và"có"diện"tích"nhỏ"hơn"diện"tích"tối"thiểu"quy"định" tại"Quyết"định"số"33/2014/QĐ-UBND,"thì"không"căn"cứ"diện"tích"tối"thiểu"theo" quy"định"tại"Quyết"định"này;”."
Căn cứ theo điểm đ, khoản 2, Điều 1 Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND: “Thửa"đất"đang"sử"dụng"được"hình"thành"trước"ngày"Quyết"định"này"có"hiệu"lực" thi"hành"mà"diện"tích"thửa"đất"nhỏ"hơn"diện"tích"tối"thiểu"nhưng"có"đủ"điều"kiện" cấp"Giấy"chứng"nhận"thì"người"sử"dụng"đất"được"cấp"Giấy"chứng"nhận"theo"quy" định"pháp"luật.”.!
Mặt khác:
- Tại khoản 1, Điều 29 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ: “Thửa"đất"đang"sử"dụng"được"hình"thành"từ"trước"ngày"văn"bản"quy" định"của"Ủy"ban"nhân"dân"cấp"tỉnh"về"diện"tích"tối"thiểu"được"tách"thửa"có"hiệu" lực"thi"hành"mà"diện"tích"thửa"đất"nhỏ"hơn"diện"tích"tối"thiểu"theo"quy"định"của" Ủy"ban"nhân"dân"cấp"tỉnh"nhưng"có"đủ"điều"kiện"cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử" dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"thì"người"đang"sử" dụng"đất"được"cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và" tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất.”."
- Tại khoản 2, Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Công văn số 3499 ngày 13/4/2018 của Sở TNMT quy định trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 cũng được xem xét cấp Giấy chứng nhận.
Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, trường hợp thửa đất của ông Hải, bà Nga đang sử dụng được hình thành từ trước ngày 01/7/2014 và 25/10/2014 nên đủ điều kiện tách thửa, cấp Giấy chứng nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử hủy Công văn số 598/CNQ2 ngày 05/4/2018 và số 845/CNQ2 ngày 14/5/2018; đồng thời, yêu cầu Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh quận 2 phải có trách nhiệm giải quyết tách thửa, cấp Giấy chứng nhận cho bà Ngô Thị Ng., ông Lê Văn Hải và bà Phạm Thị Thiên N. theo đúng quy định. Đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện, do hoàn toàn không có thái độ hợp tác, thiếu tinh thần trách nhiệm, thường xuyên vắng mặt, không thực hiện các yêu cầu của Tòa án. Người khởi kiện đã nghiêm túc tham gia tố tụng, có mặt bất kể lúc nào khi Tòa triệu tập, khai nhận, cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu, đã được tiếp cận đầy đủ các tài liệu, chứng cứ của người bị kiện cung cấp và thừa nhận là có thật. Đến nay, phía người khởi kiện không còn gì để phải chứng minh làm rõ thêm vụ án với Tòa án. Vì vậy, đề nghị Tòa án căn cứ tình tiết vụ án và quy định pháp luật để sớm tiến hành xét xử, kết thúc vụ án.
Người"bị" kiện" là" Văn"phòng"Đăng" ký" đất"đai" Thành"phố" H."có"ông" Dư" Huy"Q."làm"giám"đốc,"là"người"đại"diện"hợp"pháp"đã"có"đơn"đề"nghị"tiến"hành" xét"xử"vắng"mặt"theo"Công"văn"số"1836"ngày"19/02/2019,"đồng"thời"cử"người" bảo"vệ"quyền,"lợi"ích"hợp"pháp"theo"công"văn"số"1835"ngày"19/02/2019"và"Công" văn"số"8694"ngày"19/02/2019,"đã"nộp"cho"Tòa"án"các"tài"liệu,"chứng"cứ"theo" danh"sách"đính"kèm"vào"ngày"07/10/2019."Ngoài"ra,"ngày"09/6/2020"người"bị" kiện"có"bổ"sung"công"văn"số"5902/VPĐK-CNQ2"do"bà"Bùi"Thị"Bích"T."là"giám" đốc"mới"của"Văn"phòng"Đăng"ký"đất"đai"Thành"phố"H."nêu"ý"kiến"về"yêu"cầu" khởi"kiện"như"sau:"
Bà Phạm Thị Thiên N. nhận tặng cho từ bà Ngô Thị Ng. diện tích 45,2m2 đất ở, diện tích xây dựng 38,9m2, diện tích sàn xây dựng 72,6m2 thuộc thửa 671 theo hợp đồng tặng cho số 10277 ngày 11/11/2013 do Văn phòng Công chứng Thủ Đức chứng nhận, hợp đồng có điều kiện: không được tách thửa mà cùng đứng tên đồng sở hữu, sử dụng.
Ông Lê Văn Hải nhận chuyển nhượng từ bà Ngô Thị Ng. diện tích 53,5m2 đất ở thuộc thửa 671 theo hợp đồng chuyển nhượng số 10275 ngày 11/11/2013 do Văn phòng Công chứng Thủ Đức chứng nhận.
Phần nhà, đất bà Nga nhận tặng cho và phần nhà, đất ông Hải nhận chuyển nhượng thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 328473 (số vào sổ CS 04439) ngày 11/7/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp với diện tích 220,6m2 đất ở thuộc thửa 671, tờ 42, diện tích xây dựng 159,6m2, diện tích sàn xây dựng 234,1m2, phường Bình Trưng T., Quận 2 (Giấy chứng nhận này được tách từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 337440 (số vào sổ CH02804) do Ủy ban nhân dân Quận 2 cấp ngày 23/9/2013).
Thời điểm Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 25/02/2009 và Quyết định số 54/2012/QĐ-UBND ngày 03/12/2012 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. có hiệu lực, tuy nhiên trường hợp của ông Hải và bà Nga nói trên không đủ điều kiện tách thửa và hiện nay hai quyết định nói trên đã hết hiệu lực, đồng thời, thời điểm Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND ngày 15/10/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. có hiệu lực, trường hợp của ông Hải và bà Nga nêu trên không đủ điều kiện tách thửa và đến nay Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND đã hết hiệu lực. Theo quy định hiện hành tại điểm b Khoản 1 Điều 5 Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố, trường hợp của ông Hải và bà Nga nêu trên không đủ điều kiện tách thửa và không thuộc trường hợp quy định tại Điểm g, Khoản 2, Điều 1 Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố.
Văn bản số 598/CNQ2 và số 845/CNQ2 nêu trên của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Quận 2 trả lời đơn đề nghị xem xét (lần 1, lần 2) của bà Ngô Thị Ng., bà Phạm Thị Thiên N. và ông Lê Văn Hải thuộc trường hợp không đủ điều kiện tách thửa. Do đó nội dung yêu cầu của bà Ngày về “khiếu kiện quyết định hành chính” hủy hai văn bản nói trên là không có cơ sở.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H. phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố H. thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, và yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ng. còn trong thời hiệu theo quy định pháp luật. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự là đúng quy định pháp luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án theo luật định.
- Ý kiến giải quyết vụ án như sau: Vào thời điểm Quyết định số 33/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. có hiệu lực thì Chi nhánh Quận 2 Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố đã có Công văn số 204 ngày 31/7/2015 trả lời trường hợp của ông Hải không đủ điều kiện tách thửa theo Điểm b Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 33/2014. Đến thời điểm hiện nay thì Quyết định số 33/2014 đã hết hiệu lực. Hơn nữa, năm 2015 bà Ngày mới nộp tiền sử dụng đất và hồ sơ chuyển nhượng cho ông Hải, thửa đất chưa được hình thành trước ngày Quyết định số 33/2014 có hiệu lực như bà Ngày trình bày, nên trường hợp tách thửa trên thuộc quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 5 Quyết định số 60/2017 của Ủy ban Thành phố H.. Như vậy, Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Chi nhánh Quận 2 ban hành hai Công văn số số 598 ngày 05/4/2018 và số 845 ngày 14/5/2018 trả lời không đủ điều kiện tách thửa là đúng quy định, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ng..
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H., Hội đồng xét xử nhận định:
[1]-"Về"áp"dụng"pháp"luật"tố"tụng:""
[1.1] Xét người khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hai Công văn số 598/CNQ2 ngày 05/4/2018 và số 845/CNQ2 ngày 14/5/2018; Hành vi không thực hiện kiểm tra nội nghiệp Bản vẽ sơ đồ nhà - đất số 912/TP/17 do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại Đo đạc Tạ Phú lập ngày 27/12/2017 và không thực hiện thủ tục tách thửa, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNỞ & TSKGLVĐ của Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh Quận 2; Buộc Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh Quận 2 phải có trách nhiệm giải quyết tách thửa, cấp giấy chứng nhận cho bà Ngô Thị Ng., ông Lê Văn Hải và bà Phạm Thị Thiên N. theo đúng quy định pháp luật. Đây là loại khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về đăng ký đất đai khi thực hiện tách thửa đất theo Điểm a Khoản 4 Điều 95 Luật đất đai năm 2013, Điểm a Khoản 2 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố H. theo Khoản 3 Điều 3, Điểm a Khoản 1 Điều 30, Khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Xét ý kiến của đại diện người khởi kiện xác định hai công văn số 598/CNQ2 ngày 05/4/2018 và số 845/CNQ2 ngày 14/5/2018 là các quyết định hành chính là không phù hợp quy định pháp luật nêu trên.
[1.2] Xét tư cách của người bị kiện trong vụ án này phải là Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. (Sau"đây"viết"tắt"là"Văn"phòng"Đăng"ký"đất"đai"Thành"phố"H.)"theo quy định tại Khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Xét ý kiến của đại diện người khởi kiện xác định người bị kiện là Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. là không phù hợp quy định pháp luật nêu trên.
[1.3] Xét ngày 18/10/2018 người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố H. yêu cầu hủy hai Công văn số 598/CNQ2 ngày 05/4/2018 và số 845/CNQ2 ngày 14/5/2018 là còn trong thời hiệu khởi kiện theo Điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[1.4] Xét việc tham gia tố tụng của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện đã chết, có những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt. Ngày 13/8/2020 ông Trần B. có đơn gửi Tòa án đề nghị xét xử vắng mặt. Người đại diện hợp pháp cũ của người bị kiện là ông Dư Huy Q. có đơn đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt theo Công văn số 1836 ngày 19/02/2019, tuy nhiên, đến thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp mới của người bị kiện là bà Bùi Thị Bích T. đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015.
[1.5] Xét việc tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ngày 19/02/2019 người đại diện theo pháp luật của người bị kiện là ông Dư Huy Q. có Công văn số 1835/VPĐK-T.TCD cử ông Lê Văn Được là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện. Ngày 12/7/2019 ông Dư Huy Q. có Công văn số 8694/VPĐK-T.TCD cử bà Huỳnh Thị Hồng V. thay ông Được là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện trong vụ án này. Tuy nhiên, đến thời điểm thay giám đốc mới là bà Bùi Thị Bích T. thì không có văn bản nào của giám đốc mới có ý kiến về việc cử người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện do có sự thay đổi người đại diện theo pháp luật của người bị kiện, do đó, việc tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm của bà Vy theo Công văn số 8694/VPĐK-T.TCD ngày 12/7/2019 là không hợp lệ.
[1.6] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H. về việc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên, do ngày 09/6/2020 phía người bị kiện mới có Công văn số 5902/VPĐK-CNQ2 ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Ngày, nên việc chậm đưa ra xét xử là có lý do khách quan này.
[1.7] Xét các tài liệu, chứng cứ do người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện là bà Huỳnh Thị Hồng V. nộp vào thời điểm ngày 07/10/2019 là hợp lệ, đã được người khởi kiện tiếp cận đầy đủ và thừa nhận là có thật; Các tài liệu, chứng cứ do người đại diện hợp pháp của người khởi kiện cung cấp vào ngày 16/7/2020 là hợp lệ, do đó, hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự nộp cho Tòa án là cơ sở để xem xét, giải quyết nội dung yêu cầu của người khởi kiện dưới đây.
[2]-"Về"áp"dụng"pháp"luật"nội"dung:"
[2.1]-"Xét"hình"thức"của"hành"vi"hành"chính"bị"khiếu"kiện:""
Trên cơ sở đơn đề nghị xem xét về việc tách thửa, chuyển nhượng của bà Ngày, ông Hải và bà Nga vào các ngày 08/3/2018 và 19/4/2018 theo Bản vẽ số 912 do Công ty TNNN Tạ Phú lập ngày 27/12/2017, Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H. – Chi nhánh Quận 2 đã ban hành Công văn số 598 ngày 05/4/2018 và Công văn số 845 ngày 04/5/2018 là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định tại Khoản 6 Điều 95 của Luật đất đai năm 2013; Khoản 2 và Khoản 5 Điều 60, Điểm đ Khoản 2 Điều 61, Điều 75 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; và Khoản 49 Điều 1 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.
[2.2]-"Xét"nội"dung"của"hành"vi"hành"chính"bị"khiếu"kiện:""
Xét tại thời điểm bà Ngày, ông Hải và bà Nga có đơn đề nghị xem xét về việc tách thửa, chuyển nhượng vào các ngày 08/3/2018 và 19/4/2018 theo Bản vẽ số 912 do Công ty TNNN Tạ Phú lập ngày 27/12/2017, thì Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. quy định diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành. Do đó, người khởi kiện cho rằng phải áp dụng theo Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND ngày 15/10/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. là không phù hợp quy định pháp luật.
Xét phần nhà, đất bà Nga nhận tặng cho và phần nhà, đất ông Hải nhận chuyển nhượng thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 328473 (số vào sổ CS 04439) ngày 11/7/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp với diện tích 220,6m2 đất ở thuộc thửa 671, tờ 42, diện tích xây dựng 159,6m2, diện tích sàn xây dựng 234,1m2, phường Bình Trưng T., Quận 2 (Giấy chứng nhận này được tách từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 337440 (số vào sổ CH02804) do Ủy ban nhân dân Quận 2 cấp ngày 23/9/2013). Điều kiện khi bà Phạm Thị Thiên N. nhận tặng cho từ bà Ngô Thị Ng. diện tích 45,2m2 đất ở, diện tích xây dựng 38,9m2, diện tích sàn xây dựng 72,6m2 thuộc thửa 671 theo hợp đồng tặng cho số 10277 ngày 11/11/2013 do Văn phòng Công chứng Thủ Đức chứng nhận, là không được tách thửa mà cùng đứng tên đồng sở hữu, sử dụng. Như vậy, thửa đất còn lại khi bà Ngày tách chuyển nhượng cho ông Hải là phần đất đã tặng cho bà Nga không đảm bảo đủ diện tích tối thiểu 50m2 và chiều rộng mặt tiền thửa đất không nhỏ hơn 4m quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 5 Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. và Điều 29 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013, dẫn đến trường hợp của ông Hải và bà Nga nêu trên không đủ điều kiện tách thửa, và không thuộc trường hợp tại Điểm g Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND và Điểm đ Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố mà đại diện người khởi kiện viện dẫn.
Xét ý kiến của người bị kiện nêu tại văn bản số 5902/VPĐK-CNQ2 ngày 09/6/2020 là phù hợp quy định pháp luật, nên yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H. là phù hợp quy định của pháp luật và những nhận định nêu trên.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Ngày không được chấp nhận nên bà Ngày phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bà Ngày thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn nộp tiền án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nhưng đại diện hợp pháp của người khởi kiện và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người khởi kiện không có đơn đề nghị miễn nộp án phí, nên không có cơ sở xem xét.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ vào Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Ngô Thị Ng. (đã chết ngày 12/6/2019) có những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng gồm các ông, bà Cao Thị Hồng Nh., Phạm Văn T., Phạm Minh V., Phạm Thị Thủy Tr., Phạm Thị Thiên N., về việc hủy hai Công văn số 598/CNQ2 ngày 05/4/2018 và số 845/CNQ2 ngày 14/5/2018 của Chi nhánh Quận 2 Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.; hành vi không thực hiện kiểm tra nội nghiệp Bản vẽ sơ đồ nhà - đất số 912/TP/17 do Công ty TNHH Dịch vụ - Thương mại Đo đạc Tạ Phú lập ngày 27/12/2017 và không thực hiện thủ tục tách thửa, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNỞ & TSKGLVĐ của Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh quận 2; Buộc Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố - Chi nhánh quận 2 phải có trách nhiệm giải quyết tách thửa, cấp Giấy chứng nhận cho bà Ngô Thị Ng., ông Lê Văn Hải và bà Phạm Thị Thiên N. theo đúng quy định pháp luật.
2- Về án phí:
Bà Ngô Thị Ng. có những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng gồm các ông, bà Cao Thị Hồng Nh., Phạm Văn T., Phạm Minh V., Phạm Thị Thủy Tr., Phạm Thị Thiên N., phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba" trăm"nghìn"đồng), khấu trừ vào số tạm ứng án phí bà Ngô Thị Ng. đã nộp là 300.000 đồng (Ba" trăm" nghìn" đồng) theo Biên lai thu số AA/2017/0045596 ngày 07/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.. Người khởi kiện đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
!
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối cao; - Tòa án nhân dân Cấp cao tại TPHCM; - VKSND cấp cao tại TPHCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM; - Cục Thi hành án dân sự TPHCM; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án./. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Phạm!Thị!Thu!Hải! |