- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng thương mại cổ phần P yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả nợ theo hợp tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1260/2025/DS-ST Ngày: 29 - 9 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Châu Thị Hồng Đào
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thanh Sương
2. Ông Lê Hoàng Phú
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyến là thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Cẩm Thu – Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 607/2025/DSST ngày 19 tháng 6 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1359/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 2682/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P; địa chỉ trụ sở: Số 89 đường L, phường Đ (phường L, quận Đ) Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Số 96 đường C, phường B (Phường H, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Hoàng Từ Trung D, sinh năm 1998; địa chỉ nơi làm việc: tầng 1, tòa nhà ACM số 96 đường C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền số 382806/2025/UQN-PUN-RCC ngày 15/6/2025)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; địa chỉ: số 41/17 đường C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 4 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Từ Trung D là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần P(gọi tắt là Ngân hàng) và bà Nguyễn Thị T đã ký Hợp đồng tín dụng gồm:
- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 11/4/2024, giải ngân ngày 17/4/2024 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Pcó nội dung: số tiền vay: 183,750,000 (một trăm tám mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng; mục đích sử dụng vốn: phục vụ nhu cầu đời sống; thời hạn cho vay: 36 (ba mươi sáu) tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 17/7/2024 và phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký.
Tính đến ngày 29/9/2025, bà T đã trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc: 5,780,066 đồng và nợ lãi: 11,279,949 đồng, tổng cộng: 17,060,015 đồng.
Dư nợ thực tế tạm tính đến hết ngày 29/9/2025 theo hợp đồng cho vay trên là: nợ gốc: 177,969,934 đồng và nợ lãi: 124,474,369 đồng (lãi trong hạn: 5,405,169 đồng; lãi quá hạn: 119,069,200 đồng). Tổng cộng: 302,444,303 đồng.
- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 17/12/2020 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần P có nội dung: hạn mức tín dụng: 36,000,000 đồng; mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 14/8/2024 và phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký.
Tính đến ngày 29/9/2025, bà Nguyễn Thị T đã giao dịch, sử dụng tổng số tiền là 1,009,017,220 đồng và đã trả được gốc: 973,017,614 đồng và nợ lãi: 3,389,136 đồng, tổng cộng: 976,580,000 đồng.
Dư nợ thực tế tạm tính đến hết ngày 29/9/2025 theo hợp đồng cho vay trên là: nợ gốc: 35,999,606 đồng và nợ lãi: 31,172,007 đồng. Tổng cộng: 70,952,578 đồng
Bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:
Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký là 373,396,881 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó: nợ gốc khoản vay: 177,969,934 đồng; nợ lãi khoản vay tính đến ngày 29/9/2025: 124,474,369 đồng; nợ thẻ tín dụng là 70,952,578 đồng.
- Bà Nguyễn Thị T tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
2. Bị đơn – bà Nguyễn Thị T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự .
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
Về tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Bà T cư trú tại quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về người tham gia tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà T nhưng bà T vắng mặt, không nộp (gửi) cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Căn cứ vào Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 11/4/2024; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 17/12/2020 và bảng kê tính lãi đến ngày 29/9/2025 của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng yêu bà Ttrả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 373,396,881 đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, Ngân hàng yêu cầu bà T thanh toán tiền lãi phát sinh theo quy định theo hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, Ngân hàng yêu cầu bà T trả các khoản nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc bà Nguyễn Thị T trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký là 373,396,881 (ba trăm bảy mươi ba triệu ba trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm tám mươi mốt) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó: nợ gốc khoản vay: 177,969,934 (một trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi chín ngàn chín trăm ba mươi bốn) đồng; nợ lãi khoản vay tính đến ngày 29/9/2025: 124,474,369 (một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi chín) đồng; nợ thẻ tín dụng là 70,952,578 (bảy mươi triệu chín trăm năm mươi hai ngàn năm trăm bảy mươi tám) đồng.
Kể từ ngày 30 tháng 9 năm 2025, bà T tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 11/4/2024; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 17/12/2020 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần P được nhận lại số tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện là 7,286,140 (bảy triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi) đồng theo theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25P số 0000287 ngày 17/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà T phải nộp số tiền án phí 18,669,844 (mười tám triệu sáu trăm sáu mươi chín ngàn tám trăm bốn mươi bốn) đồng.
3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hồng Đào |