vanban.org

Bản án 126/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 20/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đắc T 03 năm 06 tháng (ba năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2025 là ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2026/HS-ST
Ngày 20/04/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Sướng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Lan Anh.

2. Bà Ngô Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đức Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Đắc T, sinh năm 1992 tại xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ trước khi phạm tội: Không; họ và tên cha: Nguyễn Đắc T1, sinh năm 1971 (đã chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; họ và tên vợ: Trần Thị Thanh H, sinh năm 1995; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T – Trại tạm giam số 01 – Công an tỉnh B. “Có mặt tại phiên tòa”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 10 phút ngày 15/12/2025, tại khu vực đường mới thuộc thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an xã Đ phát hiện Nguyễn Đắc T, sinh năm 1992 trú tại thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Văn B, sinh năm 1987 trú tại thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Đắc T tự giác giao nộp từ tay phải đang cầm 01 gói nhỏ màu trắng bọc ngoài là băng dính màu đen, bên trong có 01 núi nilon màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận chất tinh thể màu trắng trên là ma túy đá T vừa mua để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra Nguyễn Văn B không phát hiện hay thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đắc T theo quy định pháp luật.

Sau khi đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã Đ, lực lượng Công an tiến hành test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Đắc T và Nguyễn Văn B. Kết quả test nhanh xác định Nguyễn Đắc T âm tính với chất ma túy. Nguyễn Văn B dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận khoảng 20 giờ ngày 15/12/2025, T đang ở nhà một mình ở thôn Đ thì Nguyễn Văn B đến chơi. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, T rủ B đi bộ thể dục ra khu vực đường mới thuộc thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi, T nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên đi nhanh lên phía trước cách B khoảng 30 đến 40m. Khi đi lên phía trước, T gặp một người đàn ông không quen biết, khoảng 30 tuổi, T tiến lại gần hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi đưa cho T 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng băng dính màu đen. Thuân hiểu bên trong gói nhỏ là ma túy nên cầm lấy, mục đích mang về nhà sử dụng, sau đó T quay lại đi cùng B theo hướng về nhà. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, T và B bị lực lượng Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Nguyễn Văn B khai nhận không biết việc Nguyễn Đắc T mua ma túy do khi đó B đi sau Thuân cách từ 30 đến 40m, ánh sáng trên đường hạn chế nên B không quan sát được việc T mua ma túy cũng như đặc điểm của người đàn ông đã bán ma túy cho T. Đối với kết quả test nhanh dương tính với chất ma túy M, B khai nhận bản thân đã sử dụng ma túy một mình vào khoảng 18 giờ ngày 14/12/2025 tại khu bãi cỏ địa phận thôn Í, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Nguồn gốc số ma túy B sử dụng là mua với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không quen biết vào khoảng 09 giờ ngày 12/12/2025 tại khu vực đê Đ thuộc thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

Tại kết luận giám định số 3884/KL-KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng (được bọc ngoài bằng băng dính màu đen) gửi giám định có khối lượng là 0,7051 gam, là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine.

+ Mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Đắc T, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh không tìm thấy chất ma túy hay chất chuyển hóa từ ma túy.

+ Mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn B, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh gửi giám định có tìm thấy Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 117/CT-VKSKV9 ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đắc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đắc T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo là vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan sai gì.

Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, kiểm sát viên trình bày bản luận tội, phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, mục đích phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên nội dung như cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc T từ 38 tháng (ba mươi tám) tù đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2025 là ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong kín theo quy định bên trong có chứa 0,4957 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định;

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Đắc T không tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của tổ công tác Công an xã Đ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh bắc N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo Nguyễn Đắc T trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh B về số ma túy thu giữ. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 22 giờ 10 phút ngày 15/12/2025, tại khu vực đường mới thuộc thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an xã Đ, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Nguyễn Đắc T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,7051 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, có thể xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Đắc T đã đủ yếu tố cấu thành thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, loại ma túy bị cáo tàng trữ là M1, có khối lượng theo kết luận giám định là 0,7051 gam. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ đó là trật tự quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Vấn đề ma túy là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, trong khi Đảng, Nhà nước đang có những biện pháp quyết liệt để ngăn chặn tệ nạn ma túy thì bị cáo đã trực tiếp tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, gián tiếp dẫn đến các tệ nạn khác như trộm cắp, cướp giật, mai dâm….. Chính vì vậy, hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đắc T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra, truy tố cũng như xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là hình phạt tù có thời hạn mới có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội. Do bị cáo là người có nhân thân tốt nên căn cứ vào lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ cũng như số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích thu lợi, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 0,4957 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì thư được niêm phong kín theo quy định: Đây là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề liên quan:

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đắc T vào tối ngày 15/12/2025 và người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn B vào sáng ngày 12/12/2025. Cả T và B khai nhận không biết lý lịch, nhân thân của người đàn ông trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B chưa đủ căn cứ để điều tra làm rõ. Khi nào xác minh làm rõ sẽ xem xét xử lý sau là phù hợp.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn B: Xét thấy việc sử dụng ma túy của B không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn B về tội danh nêu trên. Do đó, Công an xã Đ đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đắc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đắc T 03 năm 06 tháng (ba năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2025 là ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đắc T.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong kín theo quy định, bên trong chứa 0,4957 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đắc T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ