vanban.org

Bản án 126/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá V 03 (ba) năm 09 (ch n) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù t nh từ ngày 25/ /2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN BÁ V - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự Luật ph và L ph; Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TH NH PH HỒ CH MINH
Bản án số: 126 /2026/HS-ST
Ngày: 16/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TH NH H H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Rồi

2. Bà Mai Thị Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huy n C Chi Thành phố Hồ Ch Minh.

- Đ i di n i n ki m sát nh n d n khu c - Thành ph Hồ Ch Minh: Bà Ngô Thị Hoài Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 16/3/2026 tại tr s Tòa án nhân dân khu vực - Thành phố Hồ Ch Minh (Số G tỉnh lộ xã T Thành phố Hồ Ch Minh) xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 107/2026/HSST ngày 05 tháng 02 năm 2026 theo quyết định đưa v án ra xét xử số: 14 /2026/QĐXXST-HS ngày 04/3/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bá V sinh ngày 1 /02/19 9 nơi sinh: Thành phố H; Giới t nh: Nam; CCCD số 0460 900 301 cấp ngày 2 /6/2022 tại C c C1 về TTXH; Đăng ký thường trú: Thôn C xã P Thành phố H; Chỗ : Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: /12; Nghề nghi p: Lao động tự do; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh T1.

Tiền án: - Theo Bản án số 113/2020/HSST ngày 2 / /2020 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Ch Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã đóng án ph chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2022.

- Theo Bản án số 149/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình Thành phố Hồ Ch Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự là tái phạm; đã đóng án ph và chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2025.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: - Theo Bản án số 105/2009/HSST ngày 17/4/2009 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Ch Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” đã đóng án ph được đặc xá ngày 30/ /2010.

- Theo quyết định số 7797/QĐ-UBND ngày 12/10/2012 bị Ủy ban nhân dân Quận H1 Thành phố Hồ Ch Minh ra Quyết định đưa vào cơ s cai nghi n bắt buộc đã chấp hành xong.

- Theo quyết định số 217 QĐ-UBND ngày 14/02/2017 bị Ủy ban nhân dân phường P H ra Quyết định đưa vào cơ s cai nghi n bắt buộc. Theo quyết định số 337/QĐ-UBND ngày 01/3/2017 bị Ủy ban nhân dân phường P quyết định h y Quyết định đưa người nghi n ma túy và cơ s cai nghi n bắt buộc số 217/QĐ-UBND.

- Theo quyết định số 720/QĐ-UBND Ngày 2 /9/2017 bị Ủy ban nhân dân phường B A ra Quyết định đưa vào cơ s cai nghi n bắt buộc. Ngày 31/10/2017 theo quyết định số 55/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân phường B A ra quyết định h y Quyết định đưa người nghi n ma túy và cơ s cai nghi n bắt buộc số 720/QĐ-UBND.

Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 25/ /2025 cho đến nay hi n có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Đỗ Thị Minh C sinh năm 1977; Địa chỉ: Số D ấp A xã T huy n H (nay là xã X) Thành phố Hồ Ch Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Bá V là đối tượng nghi n ma túy không có vi c làm ổn định. Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 22/5/2025 bị cáo điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh biển số 50PA-09 .90 chạy vòng quanh tìm kiếm tài sản sơ h để trộm cắp. Khi đến địa chỉ: Số D ấp F xã X Thành phố Hồ Ch Minh thì thấy nhà c a bà Đỗ Thị Minh C đang khóa cửa ngoài. Bị cáo dựng xe hẻm bên cạnh lén lút đi bộ đến dùng 01 cây tuýp l c giác (khoảng 15cm) bẻ khóa m cửa vào bên trong nhà và lấy trộm 01 xe máy Honda Vision màu đen biển số 59Y1-412.00 (không có khóa); 01 nồi cơm đi n màu xanh; 01 bình th y màu đỏ và 01 đồng hồ treo tường. Bị cáo để 01 nồi cơm đi n 01 bình th y và 01 đồng hồ treo tường lên ba ga xe máy Honda Vision và đẩy xe máy ra khỏi nhà kh i động xe máy và nhanh chóng tẩu thoát về nhà trọ tại địa chỉ: Số G N ấp F xã X Thành phố Hồ Ch Minh.

Khi về đến nhà trọ bị cáo cất giấu tài sản vừa trộm cắp và điều khiển xe máy Honda Vision biển số 59Y1-412.00 ch Nguyễn Đặng Phương T2 (là người sống chung như vợ chồng với bị cáo) đến nơi đã dựng xe trước đó. Bị cáo nói T2 chạy xe Honda Wave biển số 50PA-09 .90 đến cổng bến xe A chờ bị cáo trả xe máy Honda Vision biển số 59Y1-412.00 cho bạn. Sau đó bị cáo gửi xe máy vừa trộm và cùng T2 về lại nhà trọ. Khoảng 11 giờ ngày 27/5/2025 bị cáo đặt xe ôm công ngh đến bến xe A để lấy xe trộm được mang về lại phòng trọ để bán cho người khác. Đến 12 giờ 20 phút cùng ngày Công an xã X kiểm tra hành ch nh và đưa bị cáo về tr s làm vi c. Tại Cơ quan điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Đến ngày 27/5/2025 bà Đỗ Thị Minh C đến Công an xã X để trình báo về vi c bị trộm tài sản nêu trên.

Tài sản vật chứng thu giữ:

- 01 xe Honda Vision màu đen 110cc biển số 59Y1-412.00 số khung: RLHJF330647463 số máy: JF33E03167 ;

- 01 đồng hồ treo tường hi u Mitaco;

- 01 nồi cơm đi n hi u Cuckoo;

- 01 bình th y giữ nhi t hi u Rạng Đ

- 01 đôi dép cao su màu đen 01 áo khoác màu xanh trắng 01 quần Jeans dài màu xanh đã qua sử d ng bị cáo mặc khi thực hi n hành vi phạm tội;

- 01 đi n thoại di hi u Samsung A5 màu đỏ đã qua sử d ng.

- 01 đi n thoại di hi u Iphone 6 màu trắng đã qua sử d ng.

- 01 xe máy hi u Honda Wave màu xanh biển số 59PA-09 .90 số khung: RLHJC43009Y04217 số máy: JC43E0049076. Kết luận giám định số 5 93/KL-KTHS ngày 30/12/2025 c a Phân vi n KHHS tại Thành phố Hồ Ch Minh xác định số khung số máy nguyên th y không bị đ c sửa. Qua xác minh ch s hữu xe là Nguyễn Đặng Phương T2 (đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà T2).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho bà C: 01 đồng hồ treo tường hi u Mitaco; 01 nồi cơm đi n hi u Cuckoo; 01 bình th y giữ nhi t hi u Rạng Đông; 01 xe máy hi u Honda Vision màu đen biển số 59Y1-412.00 số khung: RLHJF330647463 số máy: JF33E03167 .

Về dân sự: Bị hại bà Đỗ Thị Minh C đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 6 /KL-HĐĐGTS ngày 23/6/2025 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận: 01 xe Honda Vision màu đen 110cc biển số 59Y1-412.00 số khung: RLHJF330647463 số máy: JF33E03167 có giá .000.000 đồng; 01 đồng hồ treo tường hi u Mitaco có giá 200.000 đồng; 01 nồi cơm đi n hi u Cuckoo công suất 1 l t – 700W có giá 100.000 đồng; 01 bình th y giữ nhi t hi u R, Model RD-2035 N1.E dung t ch 2.0 l t có giá 50.000 đồng. Tổng cộng là .350.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 22 /CT-VKS.CC ngày 05/02/2026 c a Vi n kiểm sát nhân dân khu vực – Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực – Thành phố Hồ Ch Minh để xét xử Nguyễn Bá V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 c a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào ngày 22/5/2025, tại địa chỉ: Số D ấp F xã X Thành phố Hồ Ch Minh bị cáo Nguyễn Bá V đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe máy hi u Honda Vision màu đen biển số 59Y1-412.00 số khung: RLHJF330647463 số máy: JF33E03167 ; 01 đồng hồ treo tường hi u Mitaco; 01 nồi cơm đi n hi u Cuckoo và 01 bình th y giữ nhi t hi u R có tổng giá trị .350.000 đồng c a bà Đỗ Thị Minh C. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” do đó đã có đ cơ s kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 c a Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng cho bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 173 Điều 3 điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá V phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá V từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 25/ /2025.

- Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 đôi dép cao su màu đen 01 áo khoác màu xanh trắng 01 quần Jeans dài màu xanh đã qua sử d ng bị cáo mặc khi thực hi n hành vi phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 đi n thoại di động hi u Samsung A5 màu đỏ (đã qua sử d ng) và 01 đi n thoại di động hi u Iphone 6 màu trắng (đã qua sử d ng); không liên quan hành vi phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

- Về trách nhi m dân sự: Bị hại bà C đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm; đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố bị cáo không tranh luận không tự bào chữa.

Bị cáo nói lời nói sau cùng là xin hội đồng xét xử lượng hình giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo bị cáo hối hận về hành vi c a mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ v án đã được thẩm tra xét hỏi tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi quyết định tố t ng c a Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố t ng.

Về hành vi quyết định tố t ng c a Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H Điều tra viên Vi n kiểm sát nhân dân khu vực - Thành phố Hồ Ch Minh Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự th t c quy định c a Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định c a Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng c a Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hi n đều hợp pháp. [2] Về tội danh và điều luật áp d ng

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ:

Vào ngày 22/5/2025 tại địa chỉ: Số D ấp F xã X Thành phố Hồ Ch Minh, bị cáo Nguyễn Bá V đã có hành vi lợi d ng sơ h thiếu cảnh giác c a ch s hữu lén lút chiếm đoạt tài sản gồm: 01 xe máy hi u Honda Vision màu đen biển số 59Y1-412.00 số khung: RLHJF330647463 số máy: JF33E03167 ; 01 đồng hồ treo tường hi u Mitaco; 01 nồi cơm đi n hi u Cuckoo và 01 bình th y giữ nhi t hi u Rạng Đông c a bà Đỗ Thị Minh C. Theo kết luận định giá c a Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự đã kết luận tài sản bị chiếm đoạt có giá trị tổng cộng là .350.000 đồng. Hành vi c a bị cáo Nguyễn Bá V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 c a Bộ luật Hình sự.

Tại bản án số 149/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình Thành phố Hồ Ch Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự là tái phạm; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2025.Vì vậy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Do đó có đ cơ s kết luật bị cáo Nguyễn Bá V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 c a Bộ luật Hình sự như Vi n kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội đúng quy định pháp luật.

[3] Về t nh chất mức độ hành vi phạm tội

Bị cáo nhận thức được vi c xâm phạm quyền s hữu tài sản hợp pháp c a công dân bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì m c đ ch muốn chiếm hữu tài sản để có tiền tiêu xài mà bị cáo đã thực hi n hành vi phạm tội. Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp quyền s hữu tài sản hợp pháp c a công dân được pháp luật bảo v gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ cần áp d ng hình phạt phù hợp nhằm răn đe giáo d c bị cáo tr thành người tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên cần xem xét t nh chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân c a bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[4] Về nhân thân các tình tiết tăng nặng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; do đó Hội đồng xét xử áp d ng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu như phần l lịch đã nêu trên.

[5] Xét thấy bị cáo không có nghề nghi p và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhi m dân sự và xử lý vật chứng

Về trách nhi m dân sự: Bị hại bà Đỗ Thị Minh C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm; nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng:

- Đối với 01 đôi dép cao su màu đen 01 áo khoác màu xanh trắng 01 quần Jeans dài màu xanh đã qua sử d ng bị cáo mặc khi thực hi n hành vi phạm tội; Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 đi n thoại di hi u Samsung A5 màu đỏ (đã qua sử d ng) và 01 đi n thoại di hi u Iphone 6 màu trắng (đã qua sử d ng); không liên quan hành vi phạm tội; Hội đồng xét xử quyết định trả lại bị cáo là phù hợp.

- Đối với 01 xe máy hi u Honda Wave màu xanh biển số 59PA-09 .90 số khung: RLHJC43009Y04217 số máy: JC43E0049076; do bà Nguyễn Đặng Phương T2 làm ch s hữu bị cáo có sử d ng xe này để thực hi n hành vi phạm tội vi c bị cáo thực hi n hành vi phạm tội không nói cho bà T2 biết và bà T2 cũng hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà T2 là phù hợp.

- Đối với: 01 đồng hồ treo tường hi u Mitaco; 01 nồi cơm đi n hi u Cuckoo; 01 bình th y giữ nhi t hi u Rạng Đông; 01 xe máy hi u Honda Vision màu đen biển số 59Y1-412.00 số khung: RLHJF330647463 số máy: JF33E03167 ; Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho bà C là phù hợp.

[7] Đối với Nguyễn Đặng Phương T2 hoàn toàn không biết bị cáo thực hi n hành vi phạm tội và cũng không biết tài sản là do Nguyễn Bá V trộm cắp mà có nên không có căn cứ truy cứu trách nhi m hình sự đối với T2; Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.

[ ] Xét cần buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 3 ; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2025);

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá V 03 (ba) năm 09 (ch n) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù t nh từ ngày 25/ /2025.

2. Về vật chứng

Căn cứ vào Điều 47 c a Bộ luật hình sự; điểm a c khoản 2 Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự;

Tịch thu tiêu h y: 01 đôi dép cao su màu đen 01 áo khoác màu xanh trắng 01 quần Jeans dài màu xanh.

Trả lại cho bị cáo: 01 đi n thoại di động hi u Samsung A5 màu đỏ (cũ đã qua sử d ng) và 01 đi n thoại di động hi u Iphone 6 màu trắng (cũ đã qua sử d ng).

(Theo L nh nhập kho vật chứng số G761/LNK-VPCQCSĐT ngày 21/01/2026 c a Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H).

3. Về án ph hình sự sơ thẩm

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 c a Bộ luật Tố t ng hình sự Luật ph và L ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường v Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Bá V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án ph hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo

Căn cứ vào các Điều 331 333 c a Bộ luật Tố t ng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Đỗ Thị Minh C vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ