vanban.org

Bản án 126/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 17/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Ích Đ, Lục Văn U phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ích Đ 14 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2025. Xử phạt bị cáo Lục Văn U 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo Đ,U giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Ích Đ, Lục Văn U phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/HSST
Ngày: 17-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết

Thẩm phán: Ông Bùi Quốc Hà

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đình Hoan

2. Ông Bùi Thế Hòa

3. Bà Cù Thị Lan

- A ký phiên tòa: Bà V Thị Hồng Phúc - A ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hán - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2025/HSST, ngày 04 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Ích Đ; tên gọi khác: Đạo; giới tính: Nam; sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn 6, xã ER, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Hoàng Ích L (đã chết) và bà Đặng Thị R, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: 02 tiền án, cụ thể:

- Ngày 08/10/2019, bị Toà án nhân dân huyện Ea Súp xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (thiệt hại tài sản là 1.375.000 đồng) tại bản án số 44/2019/HSST. Ngày 04/7/2020, chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 25/3/2022, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 80/2022/HS-PT. Ngày 02/01/2025, chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

1

- Ngày 29/9/2017, bị Toà án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 39/2017/HSST. Ngày 14/12/2017, chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 26/8/2017, bị Công an huyện Ea Súp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000 đồng.

- Ngày 02/5/2018, bị Toà án nhân dân huyện Ea Súp xử phạt 01 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại Bản án số 16/2018/HS-ST. Ngày 14/12/2018, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2025 tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đắk Lắk cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lục Văn U; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn 6, xã ER, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lục Văn T và bà Hoàng Thị N. Bị cáo có vợ là Hoàng Thị B, sinh năm 1996 (đã ly hôn). Bị cáo có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2025 tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đắk Lắk cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo theo chỉ định: Luật sư Nguyễn Hoàng Thái V – Văn phòng luật sư La Minh – Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ: 152 LD, P. BMT, tỉnh Đắk Lắk.

* Người bị hại:

Ông Vương Văn K - sinh năm: 1988

Địa chỉ: Thôn 7A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

Đaị diện theo ủy quyền: Vương Văn Đ – sinh năm: 1980

Địa chỉ: Thôn TH, xã DY, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

*Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lưu Thị A - sinh năm: 1980

Địa chỉ: Thôn 5A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

2. Bà Đặng Thị R - sinh năm: 1957

Địa chỉ: Thôn 6, xã ER, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

3. Bà Hoàng Thị N - sinh năm: 1973

Địa chỉ: Thôn 6, xã ER, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

4. Bà Lục Thị L

2

Địa chỉ: Thôn 6, xã ER, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

*Những người làm chứng:

1. Ông Hà Quang C – sinh năm :1992

Địa chỉ: Thôn 6A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

2. Ông Dương Văn Đ – sinh năm: 1987

Địa chỉ: Thôn 7A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

3. Bà Hoàng Thị M – sinh năm: 1997

Địa chỉ: Thôn 6A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

4. Bà Hoàng Thị G - sinh năm: 1987

Địa chỉ: Thôn 6B, xã EW, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 02/3/2025, sau khi nhậu cùng với nhau tại nhà của Dương Văn Đ (sinh năm 1987, trú tại thôn 7A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk) thì Vương Văn K (sinh năm 1988, trú tại thôn 7A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk) cùng với Hoàng Ích Đ và Lục Văn U đi về. Khi đi đến ngã ba cây xoài thuộc thôn 6B, xã EW thì Đ nói chuyện với K nhờ K mua ma tuý nhưng K nói không có dẫn đến việc Đ dùng tay chân, mũ bảo hiểm đánh K nên K chạy vào chỗ bán thịt heo của chị Lưu Thị A (sinh năm 1980, trú tại Thôn 5A, xã EW, tỉnh Đắk Lắk) lấy 01 cái thớt bằng gỗ có đường kính 26cm, dày 03cm ra đánh nhau với Đ.

Thấy Đ và K đánh nhau thì U vào can ngăn nhưng không được nên U đã cùng với Đ đánh K. U giật lấy cái thớt trên tay K còn Đ tiếp tục sử dụng mũ bảo hiểm cùng nhau đánh nhiều cái vào đầu K làm K gục ngã xuống đường. Thấy K ngã thì Đ và U tiếp tục dùng chân đá vào K nhiều cái, lúc này có nhiều người dân đi đến nên Đ và U đã vứt lại thớt gỗ cùng mũ bảo hiểm rời khỏi hiện trường còn K được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 208/KLTTCT-PY ngày 14/3/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận đối với Vương Văn K: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 40%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng thương tích gây nên là: Vết thương đã làm sẹo mặt sau 1/3 trên vành tai trái, bờ không đều, kích thước (2x0,1)cm, tỷ lệ 2%; tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái, tỷ lệ 16%; dập não xuất huyết thái dương trái, tỷ lệ 21%; nứt sọ chẩm trái, tỷ lệ 8%. Vật tác động: vật tày, cứng, có cạnh. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương đã làm sẹo mặt sau 1/3 trên vành tai trái do vật tày, cứng, có cạnh tác động trực tiếp gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải; chấn thương sọ não, nứt sọ chẩm trái, tụ máu dưới màng cứng bán

3

cầu não trái, dập não xuất huyết thái dương trái do vật tày, cứng, có cạnh tác động trực tiếp gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, từ trái qua phải. Đề nghị giám định bổ sung khi bệnh nhân đã điều trị ổn định hay khi có phát sinh tình tiết mới.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung thương tích số 335/KLTTCT-PY ngày 20/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận đối với Vương Văn K: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 21%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng thương tích gây nên: Vết thương đã làm sẹo mặt sau 1/3 trên vành tai trái, bờ không đều, kích thước (2x0,1)cm, tỷ lệ 2%; tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái, không còn hình ảnh trên phim CT Scanner sọ não, tỷ lệ 8%; Dập não xuất huyết thái dương trái, tỷ lệ 5%; nứt sọ chẩm trái, tỷ lệ 8%. Vật tác động: Vật tày, cứng, có cạnh. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương đã làm sẹo mặt sau 1/3 trên vành tai trái do vật tày, cứng, có cạnh tác động trực tiếp gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Chấn thương sọ não: Nứt sọ chẩm trái, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái, dập não xuất huyết thái dương trái do vật tày, cứng, có cạnh tác động trực tiếp gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, từ trái qua phải.

Tại công văn số 173/CV-TTPY ngày 04/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk về việc phúc đáp công văn số 1886/CV-CSHS-Đ2 ngày 04/6/2025 của CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk là: Khi giám định lần đầu cho Vương Văn K tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên vào ngày 14/3/2025 các tổn thương sọ não của Vương Văn K (tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái và dập não xuất huyết thái dương trái) đều còn hình ảnh trên phim CT Scanner sọ não nên được áp dụng tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Mục III, Chương 1. Khi giám định bổ sung cho Vương Văn K tại Trung tâm pháp y Đắk Lắk vào ngày 15/5/2025, các tổn thương sọ não của Vương Văn K (tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái và dập não xuất huyết thái dương trái) không còn hình ảnh trên phim CT Scanner sọ não nên được áp dụng tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại mục Ghi chú: Mục III, Chương 1. Các mục để áp dụng tính tỷ lệ tổn thương cơ thể có chỉ số khác nhau dẫn đến sự thay đổi của Tổng phần trăm tỷ lệ tổn thương cơ thể (giảm xuống) giữa hai lần giám định.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 245/KLTTCT-PY ngày 28/3/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận đối với Hoàng Ích Đ: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 4%. Vật tác động: Vật tày, cứng, có cạnh. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương để lại sẹo nằm chéo vùng đỉnh trán trái, bờ nham nhở là do tác động trực tiếp của vật tày, cứng có cạnh hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.

Tại bản cáo trạng số: 108/CT-VKSĐL-P2, ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Hoàng Ích Đ về tội Giết

4

người theo quy định tại các điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lục Văn U về tội Giết người, theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng số: 108/CT-VKSDL-P2, ngày 29 tháng 7 năm 2025. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Ích Đ, Lục Văn U phạm tội “Giết người”;

+ Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 15 , khoản 3 điều 57 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ích Đ từ 14 đến 15 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2025.

+ Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 15 , khoản 3 điều 57 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Lục Văn U từ 12 đến 13 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2025.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tấm gỗ hình tròn đường kính 26cm, dày 03cm; 01 miếng xốp lót mũ bảo hiểm kích thước (23x20x14)cm, dày 1,5cm; 01 miếng nhựa màu đỏ đen kích thước trong diện (23x17x19)cm, dày 0,3cm.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận mức bồi thường giữa các bị cáo và đại diện cho người bị hại.

* Luật sư Nguyễn Hoàng Thái V trình bày luận cứ bào chữa:

Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như mức hình phạt đối với các bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện theo ủy quyền của người bị hại đề nghị HĐXX xem xét để người bị hại được nhận tiền bồi thường theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên

5

quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ ngày 02/3/2025, tại khu vực ngã ba cây xoài thuộc xã EW, tỉnh Đắk Lắk, Hoàng Ích Đ và Vương Văn K xảy ra mâu thuẫn đánh nhau. Thấy Đ và K đánh nhau Lục Văn U chạy tới cùng với Đ đánh K, Đ sử dụng mũ bảo hiểm còn U sử dụng thớt gỗ đánh liên tiếp nhiều cái vào đầu K làm K ngã xuống đường rồi tiếp tục dùng chân đá nhiều cái vào người K. Thấy có nhiều người dân đi tới nên Đ và U rời khỏi hiện trường. Hậu quả, Vương Văn K bị chấn thương sọ não, nứt sọ chẩm trái, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái, dập não xuất huyết thái dương trái với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21%.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng số: 108/CT-VKSTĐL-P2, ngày 29 tháng 7 năm 2025. Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở để khẳng định rằng hành vi của các bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 của BLHS.

Tại Điều 123 của BLHS quy định:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

…

n) Có tính chất côn đồ;

…

p) Tái phạm nguy hiểm;

...”.

Về ý thức các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Các bị cáo nhận thức được việc dùng mũ bảo hiểm, thớt gỗ là loại hung khí nguy hiểm để đánh liên tiếp nhiều cái vào đầu của anh K là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, có thể dẫn đến nguy cơ chết người. Mặc dù nhận thức được điều đó nhưng do bản tính hung hăng, ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng của người khác nên các bị cáo đã dùng các hung khí đánh vào đầu anh K làm anh K ngã xuống đường rồi tiếp tục dùng tay chân đá nhiều cái vào người K cho đến khi thấy có nhiều người dân đi tới thì các bị cáo mới rời khỏi hiện trường dẫn đến thương tích cho anh K là 21%.

6

Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã trực tiếp xâm hại trái pháp luật đến tính mạng của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự ở địa phương. Do vậy cần xử phạt các bị cáo mức hình hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi đã thực hiện và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo thấy rằng trong vụ án các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, có tính chất đồng phạm giản đơn nên cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đối với các bị cáo. Hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau nhưng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để áp dụng mức hình phạt cho các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo; bị cáo Hoàng Ích Đ đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại 1.000.000 đồng, bị cáo Lục Văn U đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại tổng cộng 11.000.000 đồng và được đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo phạm tội Giết người thuộc trường hợp chưa đạt, nên được áp dụng Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

Đối với bị cáo Hoàng Ích Đ là người có nhân thân xấu, có hai tiền án, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, sự việc xảy ra bắt đầu từ mâu thuẫn của bị cáo với người bị hại do đó cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo nghiêm khắc hơn so với bị cáo Lục Văn U.

Các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện cho người bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng cộng 90.000.000 đồng.

Theo quy định của pháp luật mức bồi thường thiệt hại như sau:

- Tiền viện phí, tiền thuốc có hóa đơn: 5.530.000 đồng;

- Tiền thu nhập thực tế của người bị hại trong thời gian điều trị từ ngày 02/3/2025 đến 17/3/2025 là: 15 ngày x 300.000 đồng/ngày = 4.500.000 đồng

- Tiền thu nhập thực tế của người chăm sóc người bị hại trong thời gian điều trị: 15 ngày x 300.000 đồng/ngày = 4.500.000 đồng

- Chi phí bồi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho người bị hại trong thời gian điều trị và sau khi điều trị: 3 tháng x 1 tháng lương tối thiểu 2.340.000 đồng = 7.020.000 đồng

7

- Tiền tổn thất tinh thần cho người bị hại: 2.340.000đồng/tháng x 25 tháng = 58.500.000 đồng.

Tổng cộng 80.050.000 đồng.

Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 90.000.000đồng theo yêu cầu của đại diện người bị hại nên HĐXX cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại tổng cộng 90.000.000 đồng.

Bị cáo Hoàng Ích Đ đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại 1.000.000 đồng, bị cáo Lục Văn U đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Do đó, cần chia theo phần buộc bị cáo Hoàng Ích Đ tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 44.000.000 đồng và buộc bị cáo Lục Văn U tiếp tục bồi thường cho người bị hại 35.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 của BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tấm gỗ hình tròn; 01 miếng xốp lót mũ bảo hiểm; 01 miếng nhựa màu đỏ đen (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2025)

Về án phí: Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Ích Đ phải chịu 2.200.000 đồng và bị cáo Lục Văn U phải chịu 1.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Ích Đ, Lục Văn U phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, 17, khoản 3 Điều 57, 58 của BLHS 2015.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ích Đ 14 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2025.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, 17, khoản 3 Điều 57, 58 của BLHS 2015.

Xử phạt bị cáo Lục Văn U 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2025.

[2] Các biện pháp tư pháp:

[2.1] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của BLHS và Điều 584; 586; 591 của BLDS năm 2015.

Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại. Chia theo phần buộc bị cáo Hoàng Ích Đ tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 44.000.000 đồng

8

và buộc bị cáo Lục Văn U tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 35.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 điều 357 Bộ luật Dân sự để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án.

[2.2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 của BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tấm gỗ hình tròn; 01 miếng xốp lót mũ bảo hiểm; 01 miếng nhựa màu đỏ đen (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2025)

[3] Về án phí: Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Ích Đ phải chịu 2.200.000 đồng và bị cáo Lục Văn U phải chịu 1.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ