vanban.org

Bản án 126/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/04/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Luật phí và lệ phí; Luật thi hành án dân sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN GV
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/DS–ST
Ngày: 01-4-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GV, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Châu Thị Lệ

Bà Võ Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân

dân quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận GV tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận GV, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1175/2024/TLST-DS

ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST–DS ngày 17 tháng 02 năm 2025

và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QĐST–DS ngày 11 tháng 3 năm 2025

giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: đường

Nam Kỳ Khởi N, phường Võ Thị S, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Người

đại diện hợp pháp: Ông Trần Đức T; Địa chỉ: đường Nam Kỳ Khởi N, phường

Võ Thị S, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản ủy quyền ngày

17/7/2024. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Vũ P; Địa chỉ: Số B đường Dương Q H, Phường C,

quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người

đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có người

đại diện hợp pháp ông Trần Đức T trình bày:

Ngày 07/10/2020, ông Trần Vũ P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt

là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - gọi chung là hợp đồng), hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,77%/ tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 25.859.167 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông P phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, ông P đã thanh toán số tiền 30.944.500

đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước

+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước

+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ

+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ

+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 11/6/2023, Ngân hàng đã chấm

dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ là 5.573.727 đồng thành nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày 01/4/2025, Ông Trần Vũ P còn nợ các khoản sau: Nợ gốc

5.573.727 đồng, lãi quá hạn 9.248.137 đồng, tổng cộng 14.821.864 đồng.

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 5.573.727 đồng với lãi

suất quá hạn là 4,15%/tháng (2,77%x150%) tính từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, ông P vẫn không có thiện chí trả nợ.

Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông P phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày

01/4/2025 là 14.821.864 đồng trong đó: Nợ gốc 5.573.727 đồng, lãi quá hạn 9.248.137 đồng.

Ông P phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 02/4/2025 cho

đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Toà án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc

thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải (02 lần); Thông báo về kết

quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định

đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên

toà đối với bị đơn là ông P nhưng ông P đều vắng mặt, không có lý do.

Do ông P vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa

ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa,

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Thắng giữ nguyên các yêu

cầu đã trình bày. Bị đơn ông P vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ

án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà kể từ khi thụ lý vụ án cho

đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia

tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn, đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ

tục tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện ông Trần Vũ P

phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, đây là vụ án “Tranh

chấp hợp đồng tín dụng”. Ông P có cư trú tại địa chỉ tại số đường Dương Q H,

Phường C, quận GV nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân

dân quận GV theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35,

Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo kết quả xác minh của Công an Phường 5, quận GV thì ông P có

đăng ký thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ tại Dương Q H, Phường C, quận

GV nên Tòa án nhân dân quận GV tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với ông P theo đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông P đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét

xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi vấn đề đương sự có yêu cầu, những vấn đề liên quan đến vụ án đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương

sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Trong vụ án này, bị đơn ông P vắng mặt, không đến tòa, coi như đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên Tòa án xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Ngân hàng yêu cầu ông P thanh toán ngay số tiền nợ tính đến ngày

01/4/2025 là 14.821.864 đồng trong đó: Nợ gốc 5.573.727 đồng, lãi quá hạn 9.248.137 đồng; Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín

dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cùng lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông P, hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,77%/ tháng.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng

số tiền là 25.859.167 đồng. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/6/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 5.573.727 đồng thành nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 4,15%/tháng (2,77%x150%) phù hợp với Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 01/4/2025, tiền lãi quá hạn là 9.248.137 đồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông P phải thanh toán số nợ 14.821.864 đồng, trong đó: Nợ gốc 5.573.727 đồng, lãi quá hạn 9.248.137 đồng hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Ngân hàng yêu cầu ông P còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày

02/4/2025 theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải

chịu án phí dân sự sơ thẩm là 741.093 đồng.

Nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại 368.696 đồng tiền tạm ứng án

phí cho nguyên đơn.

Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6;

7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1

Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều

271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 4, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm

2010;

Luật phí và lệ phí;

Luật thi hành án dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí, lệ phí Tòa án;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp

luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Ông Trần Vũ P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại

Cổ phần S số tiền còn nợ là 14.821.864 đồng, trong đó: Nợ gốc 5.573.727

đồng, lãi quá hạn 9.248.137 đồng, theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao

gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 07/10/2020 và bản

Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân

hàng TMCP S).

Kể từ ngày 02/4/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án

còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Vũ P phải nộp 741.093 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã

nộp là 368.696 đồng theo Biên lai thu số 0014836 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời

hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành

theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ