vanban.org

Bản án 126/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 21/11/2024.

Truy thu buộc Nguyễn Văn C phải nộp 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước. Nguyễn Văn C đã nộp 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0010432 ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.00… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 21/11/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST
Ngày: 31 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiều

Ông Tạ Văn Nhật

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST - HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C (tên gọi khác: Trần Văn C), sinh năm 1967 tại Thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Cụm 9, V, xã H, huyện Đ, Thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; không xác định được bố, con bà Nguyễn Thị N; vợ: Thiều Thị L, có 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1996; danh, chỉ bản số: 384 lập ngày 21/11/2024 tại công an huyện Đan Phượng; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2020/HSST ngày 28/10/2020, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, C chấp hành xong ngày 04/6/2022; bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2024 đến nay; hiện đang giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đan Phượng; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đông T, sinh năm 1990; nơi thường trú: Số 182 đường H, cụm 5, xã H, huyện Đ, Thành phố H; vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đinh Ngọc V, sinh năm 1970; nơi thường trú: Cụm 3, xã H, huyện Đ, Thành phố H; vắng mặt

+ Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1994; nơi thường trú: Cụm 6, xã H, huyện Đ, Thành phố H; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/05/2024, Nguyễn Văn C ngồi uống bia tại quán bia T Y có địa chỉ tại làng V, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội do anh Nguyễn Hữu Toàn làm chủ. Tại đây, C thấy anh Nguyễn Đông T đang ngồi uống bia cùng một số người bạn nên C sang giao lưu thì phát hiện chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu xám đen của anh T đang để trên mặt bàn nên C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. Lợi dụng lúc uống bia không ai để ý, C dùng tay phải xê dịch chiếc điện thoại về gần phía bên phải C, lấy tay trái cầm chiếc điện thoại trên mặt bàn đút vào túi quần rồi đi về. Sau khi lấy được điện thoại, C đi đến nhà anh Đinh Ngọc V uống rượu. Quá trình ngồi uống rượu, C lấy chiếc điện thoại vừa lấy được đưa cho anh V bảo mang đi bán hoặc cầm cố để lấy tiền đi uống rượu. Anh V đồng ý, không hỏi nguồn gốc chiếc điện thoại trên mà mang ra nhờ anh Nguyễn Văn Q xem còn dùng được không để đem đi bán. Anh Q không mở được mật khẩu điện thoại nên trả lại anh V đồng thời kể với anh Nguyễn Xuân T về việc anh V muốn bán chiếc điện trên. Thấy vậy, anh T nhờ anh Q trao đổi với anh V muốn mua chiếc điện thoại với giá 1.500.000 đồng, anh V đồng ý. Do anh T không có tiền mặt nên anh V bảo anh Q chuyển tiền vào số tài khoản 1068.7218.8180 mở tại Ngân hàng Viettin Bank chủ tài khoản là chị Nguyễn Thị H (vợ của anh V). Sau khi mua được điện thoại, anh Q đưa cho anh T sử dụng. Đến ngày 30/5/2024, C đến nhà anh V lấy số tiền 1.500.000 đồng từ chị Hạnh rồi cùng anh V đi ăn uống và mua cho anh V 01 chiếc điện thọai di động (không nhớ đặc điểm, chủng loại) với giá 550.000 đồng nhưng sau đó V đã làm mất. Ngày 30/5/2024, anh Nguyễn Đông T đến Công an trình báo.

Vật chứng vụ án: Thu giữ của anh Nguyễn Xuân T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu xám đen, đã qua sử dụng. Thu giữ tại quán bia T Y 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn C lấy trộm chiếc điện thoại di động màu OPPO Reno 11.

Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng đồng định giá tài tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng, kết luận:“01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu đen xám, đã qua sử dụng trị giá 5.700.000 đồng”.

Cáo trạng số 119/CT- VKSPT ngày 30/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

- 2 -

Tại phiên tòa Nguyễn Văn C khai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, tại quán bia T Y có địa chỉ ở làng V, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội, C đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu xám đen của anh Nguyễn Đông T đem bán lấy tiền. Số tiền bị cáo bán điện thoại trộm cắp được là 1.500.000 đồng đã cùng anh Đinh Ngọc V tiêu sài cá nhân hết.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội phạm “trộm cắp tài sản” như bản cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Vụ án được khởi tố, truy tố và xét xử do các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, kết luận định giá tài sản và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Nguyễn Văn C đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu xám đen trị giá 5.700.000 đồng của anh Nguyễn Đông T. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn C theo tội danh và viện dẫn điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 28/10/2020 Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo thành người tốt. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Tòa án cũng xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- 3 -

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu xám đen xác định là của anh Nguyễn Đông T, ngày 30/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng trả lại cho anh T là có căn cứ.

Các biện pháp tư pháp:

Anh Đinh Ngọc V mang bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu xám đen mà C trộm cắp được; anh Nguyễn Xuân T, Nguyễn Văn Qmua chiếc điện điện thoại nêu trên nhưng đều không biết nguồn gốc chiếc điện thoại này do C trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng không xử lý là có căn cứ.

Chị Nguyễn Thị Hạnh đồng ý cho anh Nguyễn Xuân T chuyển 1.500.000 đồng tiền mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 11 5G, màu xám đen do Nguyễn Văn Chiếm trộm cắp được nhưng chị không biết số tiền này liên quan đến việc trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý.

Anh Nguyễn Đông T, anh Nguyễn Xuân T không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 1.500.000 đồng bị cáo C bán điện thoại trộm cắp được mà có, cả C và anh Đinh Ngọc V đều khai: C mua cho V 01 chiếc điện thọai di động với giá 550.000 đồng (sau đó anh V đã làm mất); số tiền còn lại C, V cùng sử dụng uống bia, còn lại 250.000 đồng V đưa C cầm. Xét thấy anh V không biết điện thoại do C trộm cắp mà có. Số tiền bán điện thoại do C chủ động lấy để mua cho anh V 01 chiếc điện thoại và mời anh V uống bia. Đây là tiền do C phạm tội mà có, sẽ truy thu buộc C phải nộp 1.500.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước. Gia đình bị cáo C đã nộp số tiền 1.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án huyện Đan Phượng theo Biên lai thu tiền số 0010432 ngày 30/12/2024.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- 4 -

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 21/11/2024.

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Truy thu buộc Nguyễn Văn C phải nộp 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước. Nguyễn Văn C đã nộp 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0010432 ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ