vanban.org

Bản án 126/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi Moi xin ly hon voi Hua Nhu Ngoc"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126 /2024/HNGĐ-ST
Ngày 23 tháng 5 năm 2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Triệu Thị Hà - Cán bộ Hội phụ nữ huyện Yên Sơn.

2. Bà: Hà Thị Vinh - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Yên Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

- Bị đơn: Anh Hứa Như Ng, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Ng vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hứa Như Ng kết hôn với nhau ngày 08/4/2019 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán địa phương. Cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có sự tôn trọng tin tưởng lẫn nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Ng, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, trầm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hứa Như Ng.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Hứa Như Ng có 02 con chung là cháu Hứa Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 05/7/2019 và cháu Hứa Bảo H, sinh ngày 30/10/2021. Sau khi ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị M xác định không có tài sản chung và vay nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Hứa Như Ng vắng mặt tại phiên toà, nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 15/3/2024 anh Ng trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị M kết hôn với nhau ngày 08/4/2019 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán địa phương. Cuộc sống chung vợ chồng ban đầu Hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay chị Nguyễn Thị M xin ly hôn, anh nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị M.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị Nguyễn Thị M có 02 con chung là cháu Hứa Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 05/7/2019 và cháu Hứa Bảo H, sinh ngày 30/10/2021, sau khi ly hôn anh nhất trí để chị Nguyễn Thị M nuôi dưỡng cả hai cháu. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung.

- Về tài sản và vay nợ chung: Anh Hứa Như Ng xác định không có tài sản chung và vay nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành việc triệu tập của Tòa án.

- Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của chị Nguyễn Thị M là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Hứa Như Ng.

- Về con chung: Giao cháu Hứa Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 05/7/2019 và cháu Hứa Bảo H, sinh ngày 30/10/2021 cho chị Nguyễn Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; anh Hứa Như Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

- Về tài sản và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị M xác định không có tài sản chung và vay nợ chung, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Nguyễn Thị M chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hứa Như Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Hứa Như Ng kết hôn với nhau vào ngày 08/4/2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Như vậy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và anh Hứa Như Ng là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị M xác định cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hội đồng xét xử thấy rằng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh Ng, khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã sống ly thân nhau. Qua xác minh với chính quyền địa phương xác định cuộc sống chung vợ chồng giữa chị M và anh Ng ban đầu bình thường, sau đó phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, hiện chị M và anh Ng đã sống ly thân nhau, chị M đã về sống ở nhà bố, mẹ đẻ của chị M từ năm 2023. Vì vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh Ng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tồn tại được một gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc và tiến bộ, ngoài ra anh Ng cũng nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị M. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M với anh Ng là phù hợp với quy định tại Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Hứa Như Ng có 02 con chung là cháu Hứa Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 05/7/2019 và cháu Hứa Bảo H, sinh ngày 30/10/2021. Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị M có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai cháu đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con. Qua xác minh với chính quyền địa phương xác định anh Ng không có khả năng về sức khoẻ và điều kiện kinh tế để nuôi con. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của các cháu cần giao cháu Hứa Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 05/7/2019 và cháu Hứa Bảo H, sinh ngày 30/10/2021cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do chị M không yêu cầu anh Ng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Hứa Như Ng xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28; 35, 39,147; 207; 227; 228; 235; 238; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Hứa Như Ng.

- Về con chung: Giao cháu Hứa Nguyễn Đăng Kh, sinh ngày 05/7/2019 và cháu Hứa Bảo H, sinh ngày 30/10/2021 cho chị Nguyễn Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Anh Hứa Như Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000001202847 ngày 07/3/2024 của Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam và biên lai số 0001140 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí.

Anh Hứa Như Ng không phải chịu án phí.

Chị Nguyễn Thị M và anh Hứa Như Ng được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án.

Cỡ chữ