- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Trần Thị Trà M - anh Nguyễn Hoàng Nh"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận cho chị Trần Thị Trà M được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Nh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-10-2024 “V/v ly hôn, yêu cầu nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh
2. Ông Danh Út Nhỏ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn, yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/10/2024 giữa:
Nguyên đơn: chị Trần Thị Trà M, sinh năm 1998 (có mặt)
Địa chỉ: ấp 1, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: anh Nguyễn Hoàng Nh, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đề ngày 25/6/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Trà M trình bày: Chị M và anh Nguyễn Hoàng Nh có quen biết tìm hiểu nhau được hơn một năm thì anh chị quyết định kết hôn, anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2018 và anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang ngày 03/01/2019. Sau khi cưới, vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người không hợp, anh Nh không lo cho vợ con, vợ chồng bất đồng nhiều vấn đề không giải quyết được nên thường xuyên cãi nhau dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc nên vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh Nh mỗi người có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai, nay chị xét thấy không thể hàn gắn hôn nhân được nữa và chị cũng không còn tình cảm với anh Nh nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nh.
Chị và anh Nh có một người con chung tên Nguyễn Hạo D, sinh ngày 24/10/2018. Chị M xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Tại phiên tòa, chị M yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân cho chị được được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Nh. Về con chung chị M yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Nguyễn Hạo D, sinh ngày 24/10/2018. Chị M không yêu cầu anh Nh phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng Nh không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng anh Nh không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm cần khắc phục.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử chấp nhận cho chị Trần Thị Trà M được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Nh. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hạo D, sinh ngày 24/10/2018 cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung chị M không yêu cầu tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: chị Trần Thị Trà M yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Nh và yêu cầu nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “ly hôn, yêu cầu nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Nguyễn Hoàng Nh với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.
Về hôn nhân: chị M và anh Hoàng Nhân quen biết, tìm hiểu nhau được hơn một năm thì anh chị quyết định kết hôn, anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2018 và anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang số vào sổ 03/2019 ngày 03/01/2019 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị M được ly hôn với anh Nh vì lý do hai người không hợp, anh Nh không lo cho vợ con, vợ chồng bất đồng nhiều vấn đề không giải quyết được nên thường xuyên cãi nhau dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc nên vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Đối với anh Nh, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh Nh đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị M khai rõ trong thời gian ly thân, chị và anh Nh mỗi người có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai, nay chị xét thấy không thể hàn gắn hôn nhân được nữa và chị cũng không còn tình cảm với anh Nh nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nh, chị M cũng tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với anh Nh. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn anh chị đã không tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nên sau thời gian chung sống giữa chị M và anh Nh mới phát sinh sự bất đồng quan điểm và không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên khi xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được dẫn đến tranh chấp kéo dài làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M là phù hợp.
Về con chung: chị M khai vợ chồng chị có một người con chung tên Nguyễn Hạo D, sinh ngày 24/10/2018. Chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Xét thấy, cháu Nguyễn Hạo D còn nhỏ nên cần mẹ chăm sóc nên Hội đồng xét xử giao cho chị M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng: chị M không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: chị M xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng Nh Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy anh Nh thường xuyên vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh Nh theo quy định nhưng anh Nh vẫn không có mặt không có lý do và anh Nh cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nh cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của anh.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: bằng 300.000 đồng, chị Trần Thị Trà M phải nộp do có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: chấp nhận cho chị Trần Thị Trà M được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Nh.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hạo D, sinh ngày 24/10/2018 cho chị Trần Thị Trà M chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
4. Về án phí HNST: Về án phí hôn nhân sơ thẩm bằng 300.000đồng chị Trần Thị Trà M phải nộp do chị có yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 00006043 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị M đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Báo cho chị M được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 31/10/2024. Báo cho anh Nh biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9, Điều 7, Điều 7a, 7b Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Tm/. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
ThÈm ph¸n-chñ täa phiªn tßa N¬i nhËn : -Tßa ¸n tØnh; -VKS huyÖn; -Chi côc THADS huyện;
(Đã ký) -C¸c ® ¬ng sù; -L u hå s¬.
Danh Thị Kiều Oanh