- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Giang Nam - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Giang N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2023/HSST Ngày: 26-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Nhung (cán bộ hưu trí)
Bà Bùi Thị Thu Nhi
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Giang N, sinh ngày 11/5/1988 tại tỉnh Tiền Giang; tên gọi khác: không có; Nơi đăng ký thường trú: số 17/6 Đ, Phường x, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang; Chỗ ở: số 81 D, Phường x, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc B (đã chết) và bà Lê Thị Bích H (1954). Bị cáo có vợ (đã ly hôn), chưa có con.
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại: Đỗ Hoàng T, sinh năm: 1989. Có mặt
Địa chỉ: số 194 ấp Thống Nhất, thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Tạm trú: ấp Bình An, xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Viết Đ, sinh năm: 1981. Xin vắng mặt
Địa chỉ: số 38 Bis đường Lt, Phường c, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang
2.4 Người làm chứng
Võ Hoàng V, sinh năm: 1996. Địa chỉ tạm trú: số 100 N, xã TA, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang. Xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Giang N là công nhân của Công ty TNHH SD, địa chỉ tại Tổ 3, khu phố 3, Phường 9, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 18/4/2023, N đi ra nhà xe của Công ty nghe điện thoại thì phát hiện xe mô tô loại Vario của anh Đỗ Hoàng T (cũng là nhân viên của Công ty) có gắn sẳn chìa khóa nên N nảy sinh tìm tài sản lấy trộm. N liền mở cốp xe trộm 01 cái bóp bên trong có số tiền 16.000.000 đồng được để trong 02 ngăn và 01 sợi dây chuyền vàng 18K có mặt hình vô lăn tàu rồi ném cái bóp cùng một số giấy tờ cá nhân của anh T ra phía sau nhà xe và rút chìa khóa xe ném vào bể xử lý nước thải. Sau đó, N đem sợi dây chuyền đến Tiệm vàng Ngọc Tín trên đường Lý Thường Kiệt, Phường 4, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bán cho anh Nguyễn Viết Đ (chủ tiệm vàng). Qua cân, dây chuyền có trọng lượng 4,1 chỉ vàng 18K, bán với giá 11.120.000 đồng. Số tiền có được N đến cửa hàng Thế giới di động đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 8; cửa hàng Viettel Post thuộc Phường 9 và cửa hàng bán phụ kiện điện thoại 20k tại đường Ngô Gia Tự, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nạp vào tài khoản 7111000xxx của N tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Tiền Giang 03 lần với tổng số tiền 26.000.000 đồng. Theo N khai, đã sử dụng số tiền nạp tài khoản vào việc cá độ bóng đá qua mạng thua hết, chỉ còn lại 1.120.000 đồng. Anh Đỗ Hoàng T sau đó phát hiện mất tài sản nên trình báo sự việc đến Công an Phường 9, qua trích xuất camera thì N được mời đến Công an làm việc, đã thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp số tiền còn lại.
Bản kết luận định giá tài sản số 101/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: 01 cái bóp bằng vải màu trắng, trên bóp có in hình con bướm màu đen-đỏ-xanh, bên trong màu đen, có nhiều ngăn, kích thước (19x19)cm, không còn giá trị sử dụng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, loại vàng 18K, trọng lượng 4,1 chỉ, có mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình tròn, dẹp (hình vô lăn tàu), không có cơ sở định giá.
Mặc dù sợi dây chuyền Hội đồng không định giá được, tuy nhiên trên cơ sở số tiền mà N đã bán có đủ căn cứ xác định sợi dây chuyền có trọng lượng 4,1 chỉ vàng 18K mà N trộm trị giá 11.120.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSMT ngày 29/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Phạm Giang N để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
*Tại phiên tòa:
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Giang N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Giang N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 28.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.120.000 đồng, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO.Reno7.
-Bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu, không bào chữa về hành vi phạm tội. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ, bị cáo rất hối hận về việc đã làm, xin cho bị cáo được hưởng án treo để sửa chữa lỗi lầm, hứa không vi phạm nữa.
-Anh T xác định đã được bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Giang N đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 18/4/2023 tại nhà xe của Công ty TNHH SD, địa chỉ Tổ 3 khu phố 3, Phường 9, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Phạm Giang N đã có hành vi lén lút mở cốp xe mô tô lấy trộm 01 cái bóp bên trong có số tiền 16.000.000 đồng cùng giấy tờ cá nhân và 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 4,1 chỉ của anh Đỗ Hoàng T, với tổng trị giá tài sản là 27.120.000 đồng.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Giang N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ñaõ trực tiếp xaâm haïi ñeán taøi saûn cuûa người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gaây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng chỉ vì có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân nên bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm, vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Tình tiết tăng nặng: Không có
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong cho bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với anh Nguyễn Viết Đ có mua sợi dây chuyền do bị cáo N bán, tuy nhiên trong lúc mua không biết đây là tài sản do N phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với số tiền phạm tội có được, bị cáo N khai sử dụng vào việc cá độ bóng đá qua mạng, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Đỗ Hoàng T yêu cầu bị cáo bồi thường 28.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm, bị cáo đã bồi thường xong nên cần ghi nhận.
Về xử lý vật chứng
Đối với sợi dây chuyền, sau khi mua anh Đ đã nấu lại gia công cho khách nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Quá trình điều tra, anh T đã được trao trả cái bóp, chìa khóa xe, giấy tờ cá nhân và 03 thẻ ATM.
Vật chứng còn lại là số tiền Việt Nam 1.120.000 đồng được để trong 01 bì thư được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, chữ ký chữ viết họ tên Trịnh Thúy L và Vũ Quốc T theo biên bản giao nhận ngày 30/6/2023. Số tiền này là số tiền do bị cáo lấy trộm của bị hại và còn lại, tuy nhiên bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại nên số tiền này cần trả lại cho bị cáo.
01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno7 Z5G màu đen, số IMEI: 86944xxxx được đựng trong 01 bì thư được niêm phong có dầu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho, chữ ký chữ viết họ tên Phạm Giang N và Vũ Quốc T theo biên bản niêm phong ngày 19/4/2023. Điện thoại này không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử có cân nhắc khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Giang N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Giang N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận đã thực hiện xong.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả cho bị cáo số tiền 1.120.000 đồng được để trong 01 bì thư được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, chữ ký chữ viết họ tên Trịnh Thúy L và Vũ Quốc T theo biên bản giao nhận ngày 30/6/2023 và 01 điện thoại di động OPPO Reno7 Z5G màu đen, được đựng trong 01 bì thư được niêm phong có dầu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho, chữ ký chữ viết họ tên Phạm Giang N và Vũ Quốc T theo biên bản niêm phong ngày 19/4/2023.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2023)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND Tp Mỹ Tho; - Chi cục THADS Tp Mỹ Tho; - Người tham gia tố tụng; -TAND tỉnh; Nguyễn -VKSND tỉnh; -CQĐT Tp Mỹ Tho; -CQ THAHS Tp Mỹ Tho; - Lưu: hồ sơ, án văn. | Nguyễn Thị Bảnh |