vanban.org

Bản án 126/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 02/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-ST
Ngày 02-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Sơn Tây;

2/ Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Lò Văn V, sinh năm 2001; nơi sinh: Sơn La; HKTT: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn G và bà Lò Thị Y; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt ngày 24/01/2023 sau đó tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn V là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2019. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/01/2023, do cần ma túy để sử dụng nên V điều khiển xe mô tô biển số 26L1-156.58 đi đến khu vực thuộc phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để tìm gặp đối tượng tên Chí (không rõ nhân thân) mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, V gặp và hỏi Chí để mua 500.000 đồng ma túy. Khi V về đến khu phố 1, phường Hội Nghĩa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, thì bị tổ tuần tra Công an phường Hội Nghĩa phát hiện bắt giữ đưa đến trụ sở để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc chứa tinh thể trắng, 03 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu chứa chất tinh thể màu trắng, xe mô tô biển số 26L1 – 156.58, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 26L1 – 156.58, 01 điện thoại di động hiệu Vivo, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Lò Văn V.

Công an phường Hội Nghĩa bàn giao V cùng hồ sơ vụ việc, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số 57/MT - PC09 ngày 01/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 01 gói giấy bạc chứa tinh thể trắng, 03 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lò Văn V là chất ma túy, loại Heroin, có trọng lượng 0,4495 gam.

Xe mô tô biển số 26L1 – 156.58 do Lò Văn V đứng tên đăng ký chủ sở hữu.

Cáo trạng số 131/CT-VKS.TU ngày 14/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Lò Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị mức án đối với bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 9 tháng tù; tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định, tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với xe mô tô biển số 26L1-156.58 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội và trả lại cho bị cáo chứng minh nhân dân mang tên bị cáo.

Bị cáo không ý kiến gì tại phần tranh luận, lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và mong muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định ngày 24/01/2023 phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lò Văn V có hành vi cất giấu 0,4495g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét đề nghị phạt tù của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, do tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn diễn biến phức tạp, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc hơn mới có tác dụng răn đe, giáo dục, đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, xe mô tô biển số 26L1-156.58 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo là phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, đối với chứng minh nhân dân mang tên bị cáo không liên quan hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo tiếp tục sử dụng.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2023.

2. Về xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,2858g ma túy còn lại sau giám định trong bì thư niêm phong ký hiệu 57/PC09.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Xe mô tô xe mô tô biển số 26L1-156.58 số khung 11ANNJ118555 số máy CGA1618909 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo.

- Trả lại cho bị cáo: Chứng minh nhân dân mang tên Lò Văn V.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên)

3. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lò Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ