- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:126/2023/HS-ST Ngày 23/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Ánh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Nhân và ông Hà H Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Bế Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2023/TLST-HS, ngày 06/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/QĐXXST-HS ngày 08/11/2023, đối với bị cáo:
Nông Văn C, sinh ngày 09/01/1975 tại Tuyên Quang
Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, phường Mỹ L, thành phố T, tỉnh TQ;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; con ông Nông Văn L (Đã chết), và bà Dương Thị T, (Đã chết); vợ: Vũ Thị D, sinh năm 1974; con: Có 02 người, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 26/5/2010 Công an huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định số 119/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền 150.000 đồng. (Có mặt tại phiên tòa)
* Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
Anh Nông Văn H, sinh năm 1997;
Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, phường Mỹ L, thành phố T, tỉnh TQ. (Có mặt)
- Người làm chứng
1. Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1968;
Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, phường Mỹ L, thành phố T, tỉnh TQ. (Có mặt)
2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, phường Mỹ L, thành phố T, tỉnh TQ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày ngày 09/3/2023, Nông Văn C, trú tại tổ dân phố 02,
phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đi uống rượu ở
nhà ông Dương Quốc Huy tại tổ dân phố 06, phường Mỹ Lâm, thành phố
Tuyên Quang. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C về đến nhà thì thấy nhà khóa
cửa, không có ai ở nhà (lúc này vợ con C đang đi chơi vắng nhà), C gọi điện
cho vợ là bà Vũ Thị Dung hỏi chìa khóa nhà thì được bà Dung chỉ nơi cất chìa
khóa ở túi áo treo trong bếp. C xuống bếp tìm nhưng không thấy chìa khóa nên
tiếp tục gọi điện thoại yêu cầu bà Dung về nhà mở cửa, bà Dung không về nên
C đã lấy dao và búa bằng kim loại ở trong bếp để cậy và đập hai cánh cửa nhà
rời ra khỏi bản lề rồi vứt ra ngoài sân (cánh cửa không bị hư hỏng gì). Sau khi
vào được nhà, C giật ri đô che giường ngủ xuống đất rồi ngồi xem tivi tại
phòng khách. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, anh Nông Văn H, sinh
năm 1997 (con trai C) về nhà, nhìn thấy cánh cửa nhà bị vứt ở sân, anh H vào
nhà lấy điều khiển tắt ti vi và nói “Suốt ngày say rượu thì tôi đập hết rượu xem
còn rượu để uống không”. Sau đó H cầm một bình rượu bằng thủy tinh để trên
tủ kệ tivi, ném ra sân vỡ thành nhiều mảnh. Thấy vậy, C đi vào bếp cầm 01
con dao bằng kim loại (dao dùng để thái chuối) đi lên sân nhà. Thấy H đang
đứng ngoài sân, C cầm dao bằng tay phải tiến đến chém về phía người H, H
giữ được cổ tay cầm dao của C, vật C xuống nền sân, H ngồi lên trên người C,
hai tay nắm lấy cổ tay C. Lúc này chị Nguyễn Thị T và bà Đoàn Thị L, trú tại
tổ dân phố 02, phường Mỹ L, thành phố TQ (là hàng xóm cạnh nhà C) chạy
sang can. Bà Lý kéo H ra không cho H ngồi đè lên trên người C, chị Thu giằng
được con dao từ tay C rồi cất vào bếp. Do được bà Lý và chị Thu can ngăn nên
H và C cùng đứng dậy. C đi vào nhà, cầm một bình rượu bằng thủy tinh ném
ra ngoài sân làm bình rượu vỡ thành nhiều mảnh, H đi vào nhà tiếp tục cãi
nhau với C. Cãi nhau một lúc thì H đi ra trước hiên nhà, C chạy ra sân, tay phải
nhặt 01 mảnh thủy tinh (của bình thủy tinh vừa đập vỡ) hình dạng không xác
định (phần to nhất 11cm, phần nhỏ nhất 5,5cm) quay lại đứng đối diện, cách
H khoảng 02 mét ném vào người H, H giơ ngang cánh tay trái đỡ trước mặt thì
mảnh thủy tinh trúng vào cẳng tay trái của H làm rách da, chảy máu, mảnh
thủy tinh rơi xuống mặt nền sân vỡ thành 02 mảnh. H chạy ra sân gọi bà Lý và
chị Thu xuống giúp, còn C đi vào nhà nằm ngủ. H được chị Thu và Vũ Anh
Sơn (con trai chị Thu) đưa đến bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm sơ cứu và được
chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang để điều trị vết thương. Bà
Lý trình báo sự việc đến Công an phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang.
* Tại bản Kết luận giám định số 80/KLTTCT-TTPY ngày 11/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang, kết luận:
- Kết quả giám định:
+ 1/3 trên mặt trước trong cẳng tay trái có sẹo kích thước 13x0,2cm, sẹo màu hồng, mềm, phẳng, bờ gọn; mặt mu tay còn cảm giác; giảm cảm giác mặt gan ngón tay III, IV, V bàn tay trái; vận động gấp duỗi cổ tay được nhưng còn đau.
+ Tổn thương thần kinh giữa.
+ Tổn thương thần kinh trụ.
+ Tổn thương nhánh thần kinh quay.
- Kết quả khám chuyên khoa:
+ Khám chuyên khoa ngoại: Sẹo mổ mặt trong cánh tay trái; vận động gập duỗi cổ tay và các ngón tay còn hạn chế; cảm giác nông, sâu các ngón tay còn.
+ Kết quả cận lâm sàng: Đo điện thần kinh cơ cẳng tay trái: Ghi điện tổn thương dẫn truyền cảm giác dây thần kinh trụ bên trái đoạn từ 1/3 trên cẳng tay trở xuống ngón III, IV, V bàn tay trái, tay phải bình thường.
- Kết luận:
+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nông Văn H tại thời điểm giám định là 46% (Bốn mươi sáu phần trăm).
+ Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích để lại sẹo 1/3 trên mặt trước trong cẳng tay trái và tổn thương thần kinh giữa, thần kinh trụ, nhánh thần kinh quay là do vật tầy có cạnh sắc tác động gây nên.
*Tại Kết luận giám định số 486/KL-KTHS ngày 03/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Trên các mẫu giám định: 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình tam giác, kích thước 4,8x3,2cm, trên bề mặt có dính dấu vết màu nâu, khô, không mùi (ký hiệu A1) gửi giám định có máu người, thuộc nhóm máu O; 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình dạng không xác định, kích thước 6,2x2,3cm, trên bề mặt có dính dấu vết màu nâu, khô, không mùi (ký hiệu A2) gửi giám định có máu người, thuộc nhóm máu O. Dấu vết máu thu được tại hiện trường là máu người, thuộc nhóm máu O. Máu của Nông Văn H thuộc nhóm máu O.
Tại bản Cáo trạng số 114/CT-VKSTP ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nông Văn C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt bị cáo Nông Văn C từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình tam giác, kích thước 4,8x3,2cm và 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình dạng không xác định, kích thước 6,2x2,3cm. Là vật chứng trong vụ án và không có giá trị sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy
Anh Nông Văn H không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự, có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản làm việc do Công an phường Mỹ Lâm lập, vật chứng thu giữ (bút lục 23, 24); Biên bản khám nghiệm hiện trường (bút lục từ 45 đến 57); Biên bản thực nghiệm điều tra (bút lục từ 59 đến 77); Bản kết luận giám định pháp y thương tích (bút lục 111, 112); lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên nghĩa vụ chịu án phí của bị cáo và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không kêu oan, nội dung khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, không có tình tiết mới, bị cáo không có khiếu nại gì về kết luận điều tra, nhất trí với nội dung cáo trạng và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuyên Quang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/3/2023 tại tổ dân phố 02, phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Nông Văn C đi uống rượu say về đã có mâu thuẫn với anh Nông Văn H, sinh năm 1997 (con trai C). C có hành vi chạy ra sân, tay phải nhặt 01 mảnh thủy tinh (của bình thủy tinh vừa đập vỡ) hình dạng không xác định (phần to nhất 11cm, phần nhỏ nhất 5,5cm) quay lại đứng đối diện, cách H khoảng 02 mét ném vào người H, H giơ ngang cánh tay trái đỡ trước mặt thì mảnh thủy tinh trúng vào cẳng tay trái của H làm rách da, chảy máu gây tổn hại là 46% (Bốn mươi sáu phần trăm) đến sức khỏe của Nông Văn H theo bản Kết luận giám định số 80/KLTTCT-TTPY ngày 11/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo uống rượu say rồi sau đó mâu thuẫn với anh Nông Văn H nên hành vi của bị cáo trong lần phạm tội này đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Nông Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử:
Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, vi phạm đạo đức xã hội, gây hoang mang trong xã hội. Bị cáo nhận thức được tính mạng, sức khỏe của người khác là vốn quý, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc nhưng vẫn thực hiện. Bị cáo và bị hại là anh Nông Văn H là bố con ruột, chỉ vì bị cáo say rượu nên đã dùng dao định chém Nông Văn H, nhưng được chị Nguyễn Thị T và bà Đoàn Thị L can ngăn. Nhưng sau đó bị cáo vẫn tiếp tục nhặt một mảnh thủy tinh ném trúng tay của Nông Văn H. Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho anh Nông Văn H (Hậu quả gây thương tích tổn hại cho anh Nông Văn H là 46%. Do vậy, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Tuy nhiên khi lượng hình, xét thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhân thân xấu, trước khi phạm tội trong lần này đã bị Công an huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định số 119/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền 150.000 đồng ngày 26/5/2010, qua đó đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo còn kém. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, khó có thể tự mình tu dưỡng cải tạo tại địa phương. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nông Văn H không yêu cầu, đề nghị về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình tam giác, kích thước 4,8x3,2cm và 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình dạng không xác định, kích thước 6,2x2,3cm nên Hội đồng xét xử thấy, cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí của vụ án: Bị cáo Nông Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
- Xử phạt bị cáo Nông Văn C 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 28/4/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình tam giác, kích thước 4,8x3,2cm và 01 mảnh thủy tinh màu trắng, hình dạng không xác định, kích thước 6,2x2,3cm.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 12/10/2023).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nông Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (23/11/2023)./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - VKSND TP. Tuyên Quang; - Công an TP. Tuyên Quang; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang; - UBND phường Mỹ Lâm; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lý Thị Nhân Lý Thúy Hà | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Ánh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Ánh |