vanban.org

Bản án 126/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Công P 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo đối với bị hại. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công P "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Công P 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực

Các Hội thẩm nhân dân:

. Ông Phạm Văn Bình.

. Bà Võ Thị Bời.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Trần Công P- sinh năm 1996 tại Khánh Hòa; ĐKTT: Lô 54 đường B7, khu đô thị VCN PH, phường PH, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện tại: 90 đường A3, khu đô thị VCN PH, phường PH, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công D- sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H-sinh năm 1973; tiền án: 01- Bản án số 206/2020/HSST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/11/2021; tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 356/QĐ-ĐTTH ngày 01/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố N đối với Trần Công P về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/7/2022 tại tổ 6 PL, phường PH, thành phố N và ngày 22/9/2022 tại 94/6A ĐN, phường PH, thành phố N; bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt.

- Bị hại: Ngô Phước L- sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn PV, xã VT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Nguyễn Quốc H- sinh năm 1992; địa chỉ: 154/4 ĐN, phường PH, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt. + Nguyễn Võ Vân A- sinh năm 1997; địa chỉ: 154/4 ĐN, phường PH, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt. + Nguyễn Huỳnh T- sinh năm 1972; địa chỉ: 90/10 ĐN, phường PH, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Lại Văn T- sinh năm 1985; địa chỉ: NV 04-16 khu đô thị PL, phường PL, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 25/6/2022, Nguyễn Quốc H điều khiển xe máy hiệu NVX biển kiểm soát 79N2- 517.79 chở Trần Công P đi ngang nhà đang xây dựng số 225/37 đường CD- PN, xã VN, thành phố N, cả hai phát hiện nhà không có cổng, lợi dụng không ai trông giữ tài sản nên H ngồi trên xe cảnh giới, P đi vào trong sân lấy trộm 01 thang bằng nhôm hình chữ A của ông Ngô Phước L. Khoảng 06 giờ cùng ngày, trong lúc H chở P mang chiếc thang đi bán, thấy 02 thanh sắt để trên vỉa hè đường LHP, phường PH, thành phố N không ai coi giữ nên dừng xe để P xuống lấy 02 thanh sắt. Sau đó, H chở P mang 02 thanh sắt, 01 thang nhôm chữ A đến bán tại tiệm phế liệu của anh Nguyễn Huỳnh T trên đường số 4, phường PH, thành phố N được 450.000 đồng, chia nhau tiêu xài hết. Đến khoảng 04 giờ ngày 27/6/2022 trong lúc Nguyễn Quốc H chở Trần Công P đi lòng vòng trong khu đô thị PL A, phường PL, thành phố N để tìm tài sản trộm cắp thì bị anh Lại Văn T thấy nghi ngờ, báo Công an 113 đưa 02 đối tượng về trụ sở Công an phường PL để làm việc. Tại đây, H, P đã khai nhận hành vi trộm cắp vào ngày 25/6/2022 ở 225/37 đường CD- PN, xã VN, thành phố N. Quá trình điều tra, xác minh không có người trình báo việc mất tài sản là 02 thanh sắt tại Công an phường PH. Kết luận định giá số 339/KL-HĐĐGTS ngày 11/11/2022 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự- UBND thành phố N kết luận: 01 chiếc thang chữ A dài 02 mét, mua tháng 3/2019 có giá trị 300.000 đồng. Tài liệu, đồ vật thu, tạm giữ: 01 xe máy hiệu NVX biển kiểm soát 79N2- 517.79 trả chủ sở hữu Nguyễn Võ Vân A. 01 thang nhôm hình chữ A trả chủ sở hữu ông Ngô Phước L.

Bản Cáo trạng số 112/CT-VKSNT ngày 31 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố N để xét xử Trần Công P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Công P theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. [3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Công P khai nhận vào khoảng 04 giờ sáng ngày 25/6/2022, tại nhà đang xây dựng số 225/37 đường CD- PN, xã VN, thành phố N, P trộm cắp 01 chiếc thang chữ A bằng nhôm của ông Ngô Phước L có giá trị 300.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản làm việc, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Trần Công P chấp hành xong Bản án số 206/2020/HSST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố N (xử phạt 01 năm 06 tháng tù) về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 06/11/2021, nên Trần Công P chưa được xóa án tích. Do đó hành vi trộm cắp tài sản của Trần Công P thực hiện ngày 25/6/2022 đã phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 112/CT-VKSNT ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa truy tố Trần Công P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Về nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 356/QĐ-ĐTTH ngày 01/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố N đối với Trần Công P về hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả cho bị hại nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [4] Đối với Nguyễn Quốc H, người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Trần Công P nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 191/QĐ-XPHC ngày 01/12/2022 đối với Nguyễn Quốc H là phù hợp.

Đối với Nguyễn Huỳnh T, khi mua 01 thang chữ A không biết tài sản do P, H trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Huỳnh T. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo trộm cắp 01 chiếc thang chữ A của ông Ngô Phước L có giá trị 300.000 đồng. Tại phiên tòa, ông L vắng mặt nhưng có lời khai đã nhận lại chiếc thang và không có yêu cầu bồi thường gì nên không xét. [6] Về vật chứng thu giữ: Đối với xe máy hiệu NVX biển kiểm soát 79N2- 517.79, qua xác minh chủ sở hữu xe là chị Nguyễn Võ Vân A. Chị Vân A là vợ của Nguyễn Quốc H, H mượn xe và dùng xe này chở bị cáo P đi thực hiện việc trộm cắp, bị thu giữ nhưng chị Vân A không biết. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Võ Vân A vắng mặt nhưng có lời khai đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì nên không xét. Đối với 01 thang nhôm chữ A, anh Nguyễn Huỳnh T tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt nhưng có lời khai không có yêu cầu bồi hoàn gì nên không xét. [7] Về án phí: Bị cáo Trần Công P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Công P.

Xử phạt bị cáo Trần Công P 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo đối với bị hại.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Trần Công P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ