vanban.org

Bản án 126/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Quang H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Võ Quang H phạm tội: “Cố ý gây thương tích” Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Võ Quang H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 87/2023/HSST Tuyên án 18/05/2023
Phúc thẩm — đang xem Bản án 126/2023/HS-PT Tuyên án 30/08/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vo Quang H "Co y gay thuong tich" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Quang H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-PT
Ngày: 30 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:

Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Ông Nguyễn Hữu Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 133/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Võ Quang H; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo: Võ Quang H, sinh ngày: 15/11/1992 tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: 23 KQH L, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Thiết kế quảng cáo; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Quang V và bà: Võ Thị T; vợ: Nguyễn Huỳnh T1; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt vào ngày 01/3/2022 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đoàn Anh Phương V1 – Văn phòng L. Địa chỉ: Tầng A, Phòng A, Tòa nhà HM, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 18/4/2020, Võ Thị Kim P, Nguyễn Thị Thúy N, Đặng Văn Đ, Võ Quang H1, Ngô Quang D, Lê Huỳnh Đ1, và Phan Thế T2 cùng đi nhậu tại quán Ố, L, Phường I, Đ. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc tính tiền ra về, do T2 và P có mâu thuẫn về mặt tình cảm, T2 đẩy P và N ngã xuống nên H1 dùng tay đấm một cái vào sau gáy của T2 thì được mọi người can ngăn. Lúc này, H1 gọi điện thoại nhờ Võ Quang H (em trai của H1) đến chở về còn T2 cũng gọi điện thoại nhờ anh Phan Thế H2 (anh trai của T2) đến đón và bảo vệ T2 vì T2 bị đánh và say xỉn. Sau đó, Đ điều khiển xe máy chở T2 còn H1 chạy theo sau dùng chân đạp vào đuôi xe nhưng xe không bị ngã, H1 tiếp tục đuổi theo phía sau. Khi đi đến bãi giữ xe của Bến xe T - L, Phường I, Đ, T2 thấy anh H2 điều khiển xe máy đến nên T2 gọi anh H2 thì anh H2 quay đầu xe lại đi cùng phần đường với T2. Lúc này, T2 nhảy xuống xe của Đ, cầm mũ bảo hiểm trên tay phải giơ lên cao chạy ngược lại lao vào đánh H1 thì H1 dùng tay đánh lại. Khi H đến thấy H1 và T2 đang đánh nhau, H đi đến, dùng một con dao dài khoảng 20cm đâm nhiều nhát vào người T2 (H không nhớ rõ vị trí) làm Tài gục xuống đường thì H dừng lại, đi ra phía ngoài vứt con dao ở bên đường. Lúc này, H1 ngồi dậy thì thấy T2 đang nằm dưới đất, H1 không biết T2 bị H đâm nên H1 dùng chân đá T2 thì bị Đ dùng một viên gạch ném vào đầu rồi dùng tay đánh H1. Thấy vậy, mọi người can ngăn và đưa T2 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh L cấp cứu. Lúc này, H1 phát hiện bị một vết thương ở cẳng tay trái dài khoảng 10cm nên H đưa H1 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh L điều trị vết thương. Đến ngày 16/5/2020, cơ quan công an triệu tập Võ Quang H đến trụ sở làm việc. Tại đây, Võ Quang H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Bị hại: Anh Phan Thế T2 bị 01 vết thương dọc cạnh phải xương ức khoảng gian sườn 4-5 dài 07cm, thấu ngực phải; 01 vết thương hạ sườn trái kích thước 05cm lồi mạc nối, 01 vết thương mông trái dài 15 cm; 01 vết thương sau hông phải 05cm, đứt gân cơ; 01 vết thương mặt trước đùi trái 06cm, đứt gân cơ.

Ngày 02/7/2020, Trung tâm pháp y tỉnh L có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 108/2020-TgT kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Phan Thế T2 là 56%. Tổn thương do vật sắc nhọn gây nên.

Sau sự việc, anh T2 yêu cầu Võ Quang H bồi thường số tiền 300.000.000 đồng. Hiện gia đình Võ Quang H đã nộp số tiền bồi thường là 40.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

Ngày 02/6/2022, Viện pháp y tâm thần Trung ương B có Kết luận giám định pháp y tâm thần số 299/KL-VPYTW đối với Võ Quang H như sau:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn do bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não.

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Cáo trạng số: 250/CT-VKSĐL-LĐ, ngày 28/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, truy tố bị cáo Võ Quang H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xử;

Tuyên bố: Bị cáo Võ Quang H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Quang H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/3/2022.

Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 18/5/2023 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư trình bày lời bào chữa: Thống nhất về tội danh và điều luật. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, xuất trình thêm tình tiết mới là xác nhận của người bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hiện gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có nhân thân tốt, đang bị bệnh và con bị cáo đang bị bệnh nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Chỉ vì bênh anh trai ruột là Võ Quang H1 đang đánh nhau với anh Phan Thế T2 nên bị cáo không kìm chế được đã dùng dao đâm nhiều nhát vào cơ thể anh T2 gây thương tích theo kết quả giám định của Trung tâm pháp y tỉnh L là 56%.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong hạn luật định và đúng quy định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nội dung kháng cáo của bị cáo là xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo ăn năn hối cải và thành khẩn khai báo; tại thời điểm gây án bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo đã bồi thường 150.000.000đ cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ án này. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu là giấy xác nhận của bị đơn đã nhận đủ số tiền bồi thường 150.000.000đ và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, tình tiết này cũng đã được cấp sơ thẩm xem xét tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hình phạt đưa ra với mức án 05 (năm) năm tù thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đủ tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Vì vậy, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và luận cứ bào chữa của luật sư, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Quang H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Xử:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Quang H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Quang H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/3/2022.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Võ Quang H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ