vanban.org

Bản án 126/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mỹ L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Mỹ L và anh Võ Thành P được ly hôn. Về con chung: Giao 01 con chung tên Võ Tấn P, sinh ngày xx/x/xxxx cho chị Hồ Thị Mỹ L được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Võ Thành P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Hồ Thị Mỹ L không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Hồ Thị Mỹ L và anh Võ Thành P"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-3-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Đạt

2. Ông Nguyễn Văn Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 509/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 và thông báo thay đổi ngày xét xử số 06/2023/TB-TA ngày 23/3/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hồ Thị Mỹ L, sinh năm xxxx; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Võ Thành P, sinh năm xxxx; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hồ Thị Mỹ L trình bày:

Chị L và anh P chung sống từ năm 2017, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Ân. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 8 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh P chơi cờ bạc, thường xuyên uống rượu bia về nhà là chửi bới và đánh đập chị L, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị L đã nhiều lần khuyên nhủ, anh P có hứa thay đổi nhưng không thực hiện. Chị L cố gắng chịu đựng nhưng đến tháng 11/2022, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng vì khi con bị bệnh, anh P không chở con đi khám bệnh mà bỏ mặc vợ tự lo liệu, quá sức chịu đựng nên chị L đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở ấp Vàm Kinh sinh sống cho đến nay. Trong thời gian không chung sống, anh P có nhắn tin gọi điện để xin lỗi, hàn gắn tình cảm nhưng chị L không chấp nhận. Nhận thấy tình cảm không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh P.

Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Tấn P, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện đang sống chung với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Võ Thành P vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn mặc dù Tòa đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Mỹ L, cho chị L được ly hôn với anh P. Về con chung: Giao 01 con chung tên Võ Tấn P, sinh ngày xx/x/xxxx cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Võ Thành P, ngụ tại ấp b, xã B, huyện G nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Bị đơn anh Võ Thành P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh P vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của anh P đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Thành P.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Mỹ L và anh Võ Thành P có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị L, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh P chơi cờ bạc, thường xuyên uống rượu bia về nhà là chửi bới và đánh đập chị L, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị L đã nhiều lần khuyên nhủ, anh P có hứa thay đổi nhưng không thực hiện. Chị L cố gắng chịu đựng nhưng đến tháng 11/2022, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị L đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở ấp a sinh sống cho đến nay. Trong thời gian không chung sống, anh P có nhắn tin gọi điện để xin lỗi, hàn gắn tình cảm nhưng chị L không chấp nhận. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L với anh P là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh chị chung sống có 01 con chung tên Võ Tấn P, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện đang sống chung với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Nhằm tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của con chung nên cần giao con chung cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở được chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ L có yêu cầu ly hôn nên chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mỹ L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Mỹ L và anh Võ Thành P được ly hôn.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Võ Tấn P, sinh ngày xx/x/xxxx cho chị Hồ Thị Mỹ L được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Võ Thành P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Hồ Thị Mỹ L không có yêu cầu.

Anh Võ Thành P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028358 ngày 09/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Hồ Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND H.GCĐ;

- CC.THADS H.GCĐ;

- UBND xã Bình Ân, H.GCĐ;

- Các đương sự;

- Lưu: HS, AV.

Nguyễn Thị Diễm Trinh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tâm Nguyễn Tấn Đạt

Nguyễn Thị Diễm Trinh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ