- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm T đối với anh Lê Anh T về việc “ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án: 126/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 11-5-2023. V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Lin.
2 Bà Trần Thị Đổi.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - là cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (toạ lạc tại Khu B, thị trấn Hậu Nghĩa) tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 02/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/01/2023 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/4/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Diễm T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh L (vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lê Anh T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh L (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 29/11/2022 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Diễm T trình bày như sau: Chị và anh Lê Anh T sống với nhau năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 13, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, về sau bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, chị và anh T không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị và anh T sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn nên chị xin ly hôn anh T, vì bận công việc nên chị xin vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.
Về con chung: Lê Thanh H, sinh ngày 25/12/2006 và Lê Ngọc H, sinh ngày 09/11/2009, hai con hiện đang sống với anh T, sau khi ly hôn chị để hai con cho anh T tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Lê Anh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến và không có ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Trần Thị Diễm T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lê Anh T, anh T hiện cư trú tại xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là Thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Diễm T và anh Lê Anh T chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân giữa chị T và anh T được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống, chị T và anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T xin ly hôn anh T, anh T không phản hồi ý kiến của chị T.
Xét thấy chị T và anh T chung sống với nhau, phát sinh mâu thuẫn nhưng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Chị T và anh T không tự khắc phục được mâu thuẫn nên để mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, dẫn đến sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay. Từ khi sống ly thân tới nay, anh T cũng không tìm ra được biện pháp gì để vợ chồng được đoàn tụ, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử hôm nay, anh T cũng không đến, không có thiện chí để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Do đó, xét thấy hôn nhân giữa chị T và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, nên chị T xin ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T.
Con chung: Lê Thanh H, sinh ngày 25/12/2006 và Lê Ngọc H, sinh ngày 09/11/2009, hai con hiện đang sống với anh T, sau khi ly hôn chị T để cho anh T tiếp tục nuôi con. Xét thấy, hiện hai cháu đang sống với anh T ổn định, hai cháu phát triển bình thường. Anh T cũng không có ý kiến phản hồi về việc chị T để cho anh T tiếp tục nuôi con, cháu Thuận và cháu Diễm thì có nguyện vọng sống với anh T, nên thấy cần thiết để cho anh T tiếp tục nuôi hai con là phù hợp, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có nên không đề cập đến. Đối với anh T không phản hồi ý kiến yêu cầu xin ly hôn của chị T nên không thể hiện có tài sản chung và nợ chung. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm T đối với anh Lê Anh T về việc “ly hôn”.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Diễm T được ly hôn với anh Lê Anh T.
Việc nuôi con: Anh Lê Anh T được quyền tiếp tục nuôi Lê Thanh H, sinh ngày 25/12/2006 và Lê Ngọc H, sinh ngày 09/11/2009, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh T không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Diễm T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Chị T được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007785 ngày 13/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -Các đương sự; -VKSND huyện Đức Hòa; -TAND tỉnh Long An; - UBND Phường 13, quận Bình Thạnh, TP.HCM; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Quyên |