- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Toà án; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2022/HSST Ngày: 22-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hƣơng.
- Các Hội thẩm nhân dân :
+ Ông Phạm Văn Thắng.
+ Ông Ngô Minh Quang.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên tòa xét xử trực tuyến tại các điểm cầu. Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương vụ án hình sự thụ lý số 126/2022/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2022/QĐXXST-HS ngày 08/9/2022 đối với bị cáo:
Bùi Thanh Đ, sinh năm 1976; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: khu 3 phường VH, TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương;
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 7/12;
Con ông Bùi Thanh K (đã chết) và Bà Phạm T.H.
Vợ : Chị Đỗ Thị X, sinh năm 1978 (đã ly hôn)
Bị cáo có 02 con: Con lớn sinh năm 1995 và con nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án: Tại Bản án số 40/2020/HSST ngày 06/5/2020 của Tòa án nhân
dân TP. Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp ngày nộp án phí 25/11/2020. Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/4/2021.
Tiền sự: Ngày 24/12/2021 UBND phường VH, thành phố Hải Dương quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, hình thức cai nghiện, điều trị tự nguyện tại gia đình thời hạn 03 tháng, đến ngày 24/3/2022 chấp hành xong.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 29/HSST ngày 01/3/1996 của Tòa án nhân dân thị xã Hải Dương xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản của công dân, đã thi hành xong án phí sơ thẩm ngày 12/4/1996.
- Tại Bản án số 120/HSST ngày 22/6/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, đã thi hành xong án phí sơ thẩm ngày 15/9/1998 .
- Tại Bản án số 43/HSST ngày 29/5/2003 của Tòa án nhân dân TP Hải
Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, được đình chỉ thi hành án dân sự ngày 22/9/2010
- Tại Bản án số 169/HSST ngày 21/11/2005 của Tòa án nhân dân TP Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, được đình chỉ thi hành án dân sự . Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2006.
- Tại Bản án số 206/HSST ngày 17/9/2007 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, TP Hải Phòng xử phạt 09 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, được đình chỉ thi hành án dân sự ngày 02/6/2014. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2015.
- Ngày 01/4/2002 Công an TP Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã nộp phạt ngày 03/4/2022
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 và anh Trần Văn T, sinh năm 1992.
Đều trú tại: Số 01, ngõ 54 phố VT, phường VH, TP. Hải Dương
- Người làm chứng: Anh Lê Đức S, sinh năm 1982.
Anh T, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 08/5/2022 Bùi Thanh Đ đi uống thuốc Methadone (chữa HIV) từ Bệnh viện nhiệt đới về đến nhà ở khu 3 phường VH, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương thì nhìn thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen đỏ, đeo biển số 34C1-316.85 của chị Nguyễn TH, sinh năm 1990; trú tại số 1 ngõ 54 VT, phường VH, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương dựng ở rìa tường đối diện cửa nhà Đ. Đ quan sát thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa và xe máy vẫn trong tình trạng mở khóa điện, đèn xi nhan trái vẫn nhấp nháy. Lúc này chị H ngồi nghe điện thoại quay lưng và cách xe máy khoảng 15-20m, thấy có sơ hở, Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy này. Đ đi bộ tiến lại gần vị trí xe, ngồi lên xe rồi nổ máy, sau đó tăng ga điều khiển đến nhà anh Lê Đức S, mục đích nhờ anh S cầm cố hộ chiếc xe máy này. Khi đến nhà anh S, Đ bảo anh S mang chiếc xe máy biển số 34C1-316.85 đi cầm cố hộ Đ. Anh S hỏi xe máy của ai thì Đ trả lời xe của Đ, giấy tờ đưa sau. Đ bảo anh S tháo biển số ra để người nhà không phát hiện thì anh S đồng ý. Sau đó, Đ lên phòng ngủ của anh S nghỉ và đợi anh S đi cầm cố xe. Sau khi tháo biển số xe ra cho vào cốp xe, anh S điều khiển xe máy đi câu cá ở hồ Việt Hòa tại khu 3, phường VH, thành phố Hải Dương. Ngay sau khi phát hiện mất xe máy chị H đến trình báo Công an phường VH. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày Công an phường VH phát hiện chiếc xe máy anh S đang sử dụng là vật chứng của vụ án. Anh S trình bày là xe của Đ nhờ mang đi cầm cố hộ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ, quản lý 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen đỏ, số máy: JF66E0696256, số khung: 5811GY696697, đeo biển số 34C1-316.85 do anh Lê Đức S giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương, xác định 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vison, màu đen đỏ, số máy JF66E0696256, số khung 5811GY696697, vành đúc, bản tiêu chuẩn, đeo biển số 34C1-316.85, đăng kí lần đầu 22/6/2017, mua cũ tháng 6/2019 tại thời điểm 08/5/2022 là 32.141.500đ x 50% = 16.070.750đ. Tổng trị giá 16.070.750đ (mười sáu triệu không trăm bảy mươi ngàn bảy trăm lăm mươi đồng chẵn).
Bản cáo trạng số 120/CT-VKSTPHD ngày 23/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Thanh Đ về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Bùi Thanh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Bị hại chị H, anh T có đơn xin xử vắng mặt và đề nghị về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo Đ chiếm đoạt của anh, chị cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương đã thu hồi trả lại cho anh T, chị H nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không giải quyết.
Về trách nhiệm hình sự: Anh T, chị H đề nghị Tòa án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Thanh Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Thanh Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 BLHS.
Xử phạt bị cáo Bùi Thanh Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/6/2022.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Không giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
- Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí Toà án; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu lệ phí, án phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, phù hợp lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, sơ đồ hiện trường. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 08/5/2022 tại ngõ 448 VH, khu 3 phường VH, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở của chị Nguyễn TH, sinh năm 1990, trú tại số 01 ngõ 54 VT, phường VH, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương dựng xe máy ở rìa đường, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, Bùi Thanh Đ đã nổ máy chiếm đoạt chiếc xe Honda Vison, màu đen đỏ, đeo biển số 34C1-316.85 của chị H. Giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt là 16.070.750 đồng.
Hành vi bị cáo chiếm đoạt tài sản trên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS, nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.
Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, x©m ph¹m quyÒn së h÷u hîp ph¸p vÒ tµi s¶n cña c«ng d©n ®ưîc ph¸p luËt b¶o vÖ, g©y t©m lý hoang mang trong nh©n d©n, g©y mÊt trËt tù t¹i ®Þa phư¬ng, x· héi. Bị cáo có nhân thân sấu đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Tòa án xét xử nhiều lần về cùng loại Tội trộm cắp tài sản. Khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy làm bài học cho bản thân ngày 08/5/2022 lại phạm tội tiếp Trộm cắp tài sản. Do vậy cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
VÒ t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Tại Bản án số 40/2020/HSST ngày 06/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt bị cáo Đ 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày nộp án phí 25/11/2020. Chấp xong án phạt tù ngày 08/4/2021 (bản án chưa được xóa án tích). Ngày 08/5/2022 bị cáo lại phạm tội tiếp Trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
T×nh tiÕt gi¶m nhÑ: T¹i C¬ quan ®iÒu tra vµ t¹i phiªn toµ, bÞ c¸o thµnh khÈn khai b¸o, bị cáo có mẹ đẻ bà Phạm Thị H được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bị hại anh T, chị H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nªn bÞ c¸o ®ưîc ¸p dông t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51 BLHS.
VÒ h×nh ph¹t bæ sung: BÞ c¸o nghÒ nghiÖp kh«ng æn ®Þnh, kh«ng cã tµi s¶n riªng nªn kh«ng ¸p dông ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.
Về vật chứng: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị H 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen đỏ, đeo biển số 34C1-316.85, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho chị Nguyễn TH là phù hợp pháp luật.
VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: BÞ c¸o chiÕm ®o¹t của chị H, anh T 01 xe máy trị giá 16.070.750đ. Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho chị H, anh T. Anh T chị H nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm nên trách nhiệm dân sự không giải quyết.
Đối với anh Lê Đức S có hành vi nhận chiếc xe máy từ Đ để đi cầm cố hộ Đ nhưng không có tài liệu chứng minh anh S biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý là phù hợp pháp luật.
Án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí Toà án; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu lệ phí, án phí Toà án.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38; Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí Toà án, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu lệ phí, án phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Xử phạt bị cáo Bùi Thanh Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/6/2022.
- Án phí: Bị cáo Bùi Thanh Đ phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, Điều 333 BLTTHS bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. Nơi gửi:
| - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND TP. Hải Dương; - CQTHAHS Công an tỉnh Hải Dương; -CQHSNVCS Công an tỉnh Hải Dương; - CQCSĐT Công an TP.Hải Dương; -CQTHAHS Công an thành phố Hải Dương; - Bị hại; - Bị cáo; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THA TP. Hải Dương; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hƣơng |