- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc TA và đồng phạm - Giết người, GRTTCC - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc TA, Nguyễn Khắc Th1 phạm tội “Giết người”; các bị cáo Vũ Huy H1, Nguyễn Ngọc X, Lê Nho H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2022/HS-ST Ngày: 25/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lượng.
Thẩm phán: Ông Đinh Xuân Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuyến.
2. Ông Đinh Văn Luận.
3. Bà Nguyễn Thị Bẩy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỷ– Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Bình - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Khắc TA, sinh năm 1998; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã M, huyện TT, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Tr, sinh năm 1956 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1961; gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ ba; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 25/2022/HSST ngày 21/4/2022, Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 25 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS; bị cáo đã có Quyết định thi hành án nhưng chưa đi chấp hành án; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
2. Nguyễn Khắc Th1, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã M, huyện TT, tỉnh BN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Tr, sinh năm 1956 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1961; gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BN; có mặt.
3. Vũ Huy H1, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện TT, tỉnh BN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Huy Gi, sinh năm 1961 (Đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Lê Thị N, sinh năm 1990; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
4. Nguyễn Ngọc X, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Thượng Trì Ấp, xã H, huyện TT, tỉnh BN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Ph, sinh năm 1958 và bà Đàm Thị T, sinh năm 1959; gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ ba; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; con: có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
5. Lê Nho H2, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện TT, tỉnh BN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Nho Kh, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc TA (do chỉ định): Ông Hoàng Thế T – Luật sư thuộc Chi nhánh Công ty Luật TNHH AP, Đoàn luật sư tỉnh BN; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc Th1 (do chỉ định): Ông Nguyễn Đức Th2- Luật sư thuộc Văn phòng luật sư ĐT, đoàn luật sư tỉnh BN; địa chỉ: TL, AT, Lương Tài, BN; có mặt.
* Bị hại (đều là bị cáo trong vụ án này):
1. Vũ Huy H1, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện TT, tỉnh BN; có mặt.
2. Nguyễn Ngọc X, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện TT, tỉnh BN; có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Khắc Tr, sinh năm 1956 và bà Ngô Thị Miện, sinh năm 1961 (là bố mẹ bị cáo TA và Thủy); nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã M, huyện TT, tỉnh BN; có mặt.
2. Chị Lê Thị N, sinh năm 1990 (vợ bị cáo H1); nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện TT, tỉnh BN; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Ông Đỗ Đăng S, sinh năm 1977; vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Công Th3, sinh năm 1993; có mặt.
3. Anh Nguyễn Khắc P, sinh năm 1994; có mặt.
Đều trú tại: Thôn T, xã M, huyện TT, tỉnh BN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày ngày 17/12/2021, Vũ Huy H1 điều khiển xe mô tô đi từ nhà anh Nguyễn Công Lộc, ở xóm Hậu, xã M về nhà mình. Khi H1 đi đến khu vực ao, chùa của thôn T, thì thấy Nguyễn Khắc TA đi ngang qua đường. H1 cho rằng TA chặn đường nên khi H1 đi qua, thì ngoái đầu lại chửi tục TA. Trên đường về, H1 đi vào nhà Lê Nho H2 (là em họ của H1). Lúc này, tại nhà H2 có Nguyễn Ngọc X cũng đang ngồi chơi, H1 và X là bạn cùng học và có quen biết nhau. Tại đây, H1 kể lại việc bị TA chặn đường và rủ H2, X tìm TA để đánh “rằn mặt", H2 và X đồng ý. X bảo mọi người lên xe ô tô tải, BKS: 98K – 73xx để X chở đi. Chiếc xe ô tô tải này là của anh Nguyễn Ngọc Ch, sinh năm 1985, ở thôn T, xã H, huyện TT, tỉnh BN (là anh trai X) giao cho X quản lý sử dụng, để đi chở hàng thuê từ khoảng năm 2016. X là người điều khiển xe chở H1 ngồi giữa, H2 ngồi ngoài cùng bên ghế phụ. H1 ngồi trên xe, chân của H1 có dẫm nên con dao, dạng dao mèo dài khoảng 65cm, dao có chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, một đầu nhọn, một lưỡi sắc, sống dao có rằng cưa, bản rộng nhất 5cm, phần lưỡi dao đút ở trong vỏ đựng bằng gỗ. X khai mua con dao này từ khoảng năm 2016 của một người bạn tên T2 ở Hà Nam, dùng để chặt cây ven đường. Trên taplo xe phía trước ghế phụ có để 01 chiếc mũ xốp mềm màu trắng, rộng khoảng 25cm, cao khoảng 18cm, H2 lấy chiếc mũ đó đội lên đầu. Khi xe ô tô của X đến khu vực ngã ba cạnh ao chùa thôn T, thì H1 chỉ tay về phía TA và nói cho X và H2 biết. X dừng xe ô tô lại, tất cả xuống xe. Khi xuống xe, H1 cầm theo 01 con dao mèo, để ở cabin dưới sàn xe ô tô vị trí ghế phụ, H2 vẫn đội mũ xốp trên đầu. Lúc này, TA thấy H1, X, H2 chạy về phía mình, thì TA liền bỏ chạy về nhà. H1, X, H2 đuổi theo TA, đuổi được một đoạn không kịp nên X và H1 quay lại xe ô tô, đợi H2.
TA chạy về đến sân nhà liền gọi: “Anh Thủy ơi, em bị đánh”. TA chạy ra bể nước lấy 01 con dao, loại dao bầu chuôi gỗ, có một lưỡi sắc, bản dao chỗ rộng nhất khoảng 08cm, dao dài khoảng 30cm. Lúc này, Nguyễn Khắc Thủy, sinh năm 1991 (là anh ruột của TA) đi ra sân và hỏi “Ở đâu”, thì TA nói “Chúng nó đang ở ngoài Đình”. Thủy dùng tay phải giật con dao bầu trên tay TA và cầm dao chạy ra phía đình, chùa để đánh nhóm của H1. TA quay lại bể nước lấy tiếp 01 con dao, dạng dao rựa bằng kim loại màu đen, dài khoảng 40cm, chuôi dao hình trụ tròn dài 10cm, phần lưỡi dao vát dần về phía chuôi dao, bản rộng nhất 6,5cm chạy theo sau Thủy. Khi Thủy và TA chạy ra đến khu vực đình, chùa thôn T thì TA chỉ tay về phía xe ô tô của X và nói “Ô tô kia kìa”. Thủy cầm dao bầu chạy về phía xe ô tô của X. Lúc này, X thấy H2 đi về đến xe ô tô, do xe ô tô bị kẹt cửa bên phụ, nên X đi xuống xe mở cửa để cho H2 lên xe. Khi X xuống xe ô tô, thì H1 đang ngồi trên cabin ô tô thấy Thủy đang cầm dao chạy đến. H1 liền cầm con dao mèo đi bên cửa lái của xe ô tô để xuống xe. H1 rút dao ra khỏi vỏ và chạy về phía Thủy. Đến trước cổng chùa thì H1 và Thủy đứng đối diện nhau. Tay phải H1 cầm dao giơ lên cao ngang đầu để chém, thì Thủy giơ tay phải gạt dao, làm Thủy bị thương ở ngón áp út tay phải, lưỡi dao mèo rời khỏi chuôi dao và rơi xuống đất. Thủy tay trái cầm dao bầu đâm 01 nhát trúng vào nách phải của H1. H1 liền ném chuôi dao mèo về phía Thủy, cầm theo vỏ dao bỏ chạy. Thủy cúi xuống nhặt lưỡi dao mèo dưới đất lên cầm ở tay phải, chạy đuổi theo H1. H1 chạy đến gần cổng chào thôn T, thì vứt vỏ dao mèo, rồi nhặt 01 tấm gỗ cốt pha ở lề đường bên phải. Tấm gỗ cốt pha dài 1,7m, một đầu rộng 10cm, một đầu rộng 7cm, dày 2cm, H1 cầm ở hai tay, quay người lại về phía Thủy đang chạy tới. Trong lúc Thủy đuổi theo H1 thì H2 bỏ chạy ra cánh đồng thôn T, còn X điều khiển xe ô tô, TA chạy bộ đuổi theo phía sau Thủy và H1. Khi xe ô tô của X vượt qua Thủy và H1 thì X dừng xe lại. X xuống xe, chạy lại chỗ H1 để kéo H1 lên ô tô, nhưng không được. Khi Thủy chạy đến, thì H1 cầm tấm cốt pha bằng hai tay giơ lên ngang vai rồi vụt 01 cái từ phải qua trái trúng vào vai trái của Thủy. TA cầm dao rựa bằng tay phải đi đến, chém trúng vào vai trái của H1. Bị chém, H1 vứt tấm cốt pha xuống rồi quay người bỏ chạy. Thủy và TA tiếp tục đi đến chỗ X đứng ở gần đó. Thủy tay trái cầm dao bầu chém 01 nhát từ trái sang phải trúng vào phần mạn sườn phải của X. TA cầm dao rựa bằng tay phải chém 01 nhát từ trên xuống dưới, trúng đỉnh đầu của X, làm X khuỵu xuống đường. Thủy ném con dao bầu đang cầm ở tay trái đi, chuyển lưỡi dao mèo cầm từ tay phải sang tay trái, đi lại chỗ X. Thủy cầm lưỡi dao mèo giơ lên cao chém 01 nhát từ trên xuống dưới, từ trái sang phải trúng vào đầu của X, làm X ngã ngồi bệt xuống mặt đường.
Lúc này, ông Đỗ Văn S là Trưởng thôn đi đến, thì Thủy đưa con dao mèo cho ông S. Thủy đi đến nhặt tấm cốt pha ở dưới mặt đường mà H1 vứt lại. Thủy giơ lên vụt trúng vào cẳng chân trái của X rồi Thủy vứt tấm cốt pha lại, bỏ về. Trong lúc Thủy tiếp tục đánh X, thì TA đuổi theo H1. TA đuổi đến cổng trào của thôn T gặp bà Ngô Thị Miện, sinh năm 1961 (là mẹ của TA) chạy đến can ngăn. TA vứt con dao rựa lại rồi bỏ về. Bà Miện nhặt con dao mang về nhà, sau đó giao nộp cho Cơ quan điều tra. H2, H1 cùng bỏ chạy về phía cánh đồng thôn T, khi gặp nhau. Thấy H1 bị thương, H2 gọi xe taxi đưa H1 đi Bệnh viện đa khoa tỉnh BN cấp cứu, điều trị từ ngày 17/12/2021 đến ngày 21/12/2021 thì ra viện. Nguyễn Ngọc X được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh BN, từ ngày 17/12/2021 đến ngày 27/12/2021 thì ra viện.
Ngày 18/12/2021 TA và Thủy đã đến Cơ quan điều tra đầu thú
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ án, xác định:
Hiện trường số 1 (Nơi Thủy chém H1 lần đầu): Hiện trường xảy ra tại đoạn đường liên thôn T. Phía bắc là đường vào thôn T, phía nam là đường ra trục chính thôn, phía sau là nhà văn hóa thôn T, phía đông giáp chùa thôn T, phía tây là ao chùa, sau là đường liên xã. Trên mặt đường ở vị trí số (1) phát hiện 01 chuôi dao dài 20,5cm, phía ngoài cuốn mảnh kim loại màu vàng. Cạnh chuôi dao có 01 mảnh kim loại có lỗ ở giữa, hai đầu bẻ cong (đai dao). Trên mặt đường ở vị trí số (2) phát hiện dấu vết nghi mẫu dạng nhỏ giọt diện (2,2 x 0,5)cm. Trên mặt đường tại vị trí số (3) phát hiện dấu vết nghi máu dạng nhỏ giọt diện (70x50)cm, tâm vết cách vết nghi máu ở vị trí số (2) là 2,3m.
Hiện trường số 2 (Nơi xảy ra hành vi Thủy và TA chém H1 và X): Tại đoạn đường thôn T khu vực cổng chào thôn T. Phía Bắc là ao chùa, phía nam giáp tường rào nhà văn hóa thôn T, phía Đông là đường thôn T, phía Tây giáp đường liên xã M. Trên mặt đường phát hiện dấu vết, vật chứng như sau: Khu vực ký hiệu số (1) có 01 đôi dép tổ ong; 01 con dao (loại dao mèo) có đầu nhọn và một lưỡi sắc, không có chuôi dao; 01 bao dao làm bằng gỗ đã bị vỡ vỏ; 01 thanh gỗ dài 1,7m, phần đầu lớn dài 9,5cm, phần đầu nhỏ dài 7cm, phía đầu nhỏ có dấu vết nghi là máu. Khu vực ký hiệu (2) có: 01 chiếc xe ô tô BKS 98K- 7344; Kí hiệu (3) trên mặt đường nhựa có dấu vết nghi máu dạng nhỏ giọt, dài 14m, rộng nhất 1m.
* Về thương tích của Nguyễn Ngọc X và kết quả giám định thương tích: Tại giấy chứng nhận thương tích số 12/KH ngày 12/01/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh xác định thương tích của Nguyễn Ngọc X như sau:
+ 01 vết thương đầu vùng đỉnh trái dài khoảng 10cm, sâu khoảng 03cm, bên trong có mảnh rời bản ngoài xương đỉnh trái vỡ thành nhiều mảnh nhỏ;
+ 01 vết thương vùng đỉnh phải kích thước khoảng (3x1)cm, sâu 1cm, mép vết thương gọn, cầm máu;
+ 01 vết thương vùng mạn sườn phải khoảng (5x2)cm, sâu 2cm, lộ cơ thành bụng;
+ Sưng đau gối trái, cẳng chân trái, ấn đau chói đầu trên xương chày trái
+ 01 vết thương ở mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái dài 1cm, sâu 0,2cm, rộng 0,2cm;
+ Chụp CLVT sọ não: Hiện không thấy bất thường nội sọ, mất liên tục bản ngoài xương đỉnh trái;
+ Chụp Xquang khớp gối trái, xương cẳng chân trái, vỡ lún mâm chày ngoài gối trái.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 04/TgT ngày 19/01/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Ninh, kết luận thương tích y của Nguyễn Ngọc X như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định hiện tại:
1.1 Thương tích vùng đỉnh - chẩm trái, cách đỉnh tai trái 10,5 cm, kích thước 8 cm x 1,3 cm, vùng trung tâm thương tích sẹo lõm, chắc, không di động, bờ mép gọn, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương sẹo phần mềm. Mục I.3. sẹo lớn = 3%.
1.2 Thương tích vùng đỉnh - chẩm phải, cách đỉnh tai phải 6,5cm, kích thước 2,5cm x 0,2cm, còn 01 sẹo chân chỉ, sẹo di động, bờ mép gọn, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. sẹo nhỏ =1%
1.3 Thương tích vùng mạn sườn phải, cách đường trắng giữa 14,5 cm, cách núm vú phải 17,3cm, kích thước 5,5cm x 0,2cm, còn 3 sẹo chỉ khâu, kích thước mỗi sẹo chỉ khâu 2,5 cm x 0,2 cm, bờ mép gọn, sẹo màu hồng nhạt, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.3. sẹo lớn = 3%.
1.4 Thương tích 1/3 giữa trước xương chày trái, trên diện 4 cm x 4 cm, trung tâm diện đóng vảy tiết màu nâu sẫm, kích thước 1,5 cm x 1,5 cm. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. sẹo nhỏ = 1%.
1.5 Hình ảnh vỡ lún mâm chày ngoài gối trái. Áp dụng chương 7 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương Cơ - Xương - Khớp. Mục VIII.17.1=13%.
1.6 Khuyết xương bản ngoài vùng đỉnh trái kích thước 38 mm x 17mm. Áp dụng chương 1 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương xương sọ và hệ thần kinh. Mục I.1.1 = 6%.
1.7 Dày niêm mạc xoang hàm hai bên, vẹo phải vách ngăn mũi. Thương tích phần mềm gối trái, sưng đau. Hiện tại đã khỏi, không tổn thương. Không đủ căn cứ khoa học tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
2. Căn cứ thông tư số: 22/2019/TT-BYT ký ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong pháp y
Theo nguyên tắc cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 24,58 % (Hai mươi tư pháp năm mươi tám phần trăm). Làm tròn: 25 % (Hai lăm phần trăm)
3. Cơ chế: Thương tích 1.1, 1.2, 1.3, 1.6 là do tác động ngoại lực bởi vật sắc. Thương tích 1.4, 1.5 là do tác động ngoại lực bởi vật tày.
Tại công văn số 136/CV-PY ngày 04/10/2022 của Trung tâm pháp y Sở ý tế tỉnh Bắc Ninh trả lời đối với thương tích của Nguyễn Ngọc X theo Kết luận giám định pháp y số 04/TgT ngày 19/01/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Ninh như sau:
"- Thương tích 1.3 được tính tỷ lệ phần trăm theo mục I.3 Chương 8, Thông tư số: 22/2019/TT-BYT với căn cứ sau: Tại Chương 8. Nguyên tắc 3 Thông tư số 22/2019/TT-BYT có mục "+" "quy định: "Nếu sẹo vết thương và sẹo phẫu thuật, thủ thuật trùng nhau thì tính kích thước một sẹo và cho tỷ lệ % TTCT ở mức tối đa của khung". Do vậy thương tích 1.3 được xử trí khâu vết thương để xử lý vùng tổn thương (vùng mạn sườn phải), tại thời điểm khám giám định còn vết chân chỉ khâu.
- Thương tích 1.7 (Dày niêm mạc xoang hàm, vẹo phải vách ngăn mũi) của
- Nguyễn Ngọc X là bệnh lý có trước ngày 17/12/2021.
- Thương tích phần mềm gối trái sưng đau. Hiện tại đã khỏi, không để lại dấu vết thương tích. Không có trong danh mục tính tỷ lệ % tổn thương cơ thể tại Thông tư 22/2019/TT-BYT".
* Về thương tích của Vũ Huy H1 và kết quả giám định thương tích:
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 13/KH ngày 12/01/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh xác định tình trạng thương tích của Vũ Huy H1 như sau:
+ 01 vết thương vai trái kích thước khoảng (02x03)cm, sâu 01cm, mép vết thương gọn;
+ 01 vết thương vùng dưới hõm nách phải kích thước khoảng (05x05)cm sâu khoảng 08cm, hướng vào trong, lên trên tới bờ ngoài xương sườn 2 bên phải;
Cận lâm sàng có giá trị chấn đoán:
+ Chụp CLVT lồng ngực ngày 17/12/2021: Tổn thương mô mềm vùng nách phải và thượng đòn trái;
+ Chụp CLVT lồng ngực ngày 18/12/2021: Hình ảnh xẹp phổi dạng dải 2 phổi. Tụ khí kèm thâm nhiễm phần mềm vùng hố nách phải;
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 05/TgT ngày 19/01/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Ninh, kết luận thương tích của Vũ Huy H1 như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định hiện tại:
Thương tích vai trái, bờ trên xương đòn trái, tương ứng vị trí 1/3 ngoài xương đòn trái, kích thước 5cm x 0,4cm, còn 4 sẹo chân chỉ mở, sẹo di động. liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.2. sẹo trung bình = 2%.
Thương tích vùng nách phải, nằm trên đường nách giữa giáp hố nách phải, kích thước 5cm x 0,3cm, bờ mép gọn, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.2. sẹo trung bình =2%.
Thương tích sẹo dẫn lưu phần mềm của thương tích vùng nách phải, nằm trên đường nách giữa, cách hố nách phải 7cm, kích thước 2,5cm x 0,8cm, bờ mép không đều, sẹo màu hồng nhạt, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. sẹo nhỏ =1%.
Dày nhẹ màng phổi hai bên. Không đủ căn cứ khoa học tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
2. Căn cứ thông tư số: 22/2019/TT-BYT ký ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong pháp y. Theo nguyên tắc cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 4,92 % (Bốn phẩy chín mươi hai phần trăm). Làm tròn 5 % (Năm phần trăm).
3. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích do tác động ngoại lực trực tiếp bởi vật sắc”.
* Về thương tích của Nguyễn Khắc Thủy và kết quả giám định thương tích:
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Khắc Thủy ngày 18/12/2021 xác định tình trạng thương tích của Thủy như sau:
+ 01 vết bầm tím xây sát da kéo dài từ khuỷu tay trái đến bả vai trái, kích thước (34 x 4,5) cm.
+ 01 vết rách da ở mặt trong đốt 2 ngón áp út tay phải, kích thước (1,5 x 0,2)cm, xung quanh bám dính máu khô.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 12/Tg7 ngày 19/01/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Ninh, kết luận thương tích của Nguyễn Khắc Thủy như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định hiện tại:
Thương tích sẹo vùng bả vai trái, cách nếp lằn bả vai cánh tay 6cm, kích thước 2,7cm x 0,1cm, sẹo nông mờ, bờ mép không đều, màu hồng nhạt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ =1%.
Thương tích sẹo ngón 4 đốt II mặt gan bàn tay phải, kích thước 1,5cm x 0,2cm, màu hồng sẫm, bàn ngón tay nắm duỗi tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương cơ thể phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ =1%.
Vùng cánh tay trái, khuỷu tay trải không còn dấu vết thương tích. Không đủ căn cứ khoa học tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
2. Căn cứ thông tư số: 22/2019/TT-BYT ký ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong pháp y và pháp y tâm thần. Theo nguyên tắc cộng tại thông tư 22/2019/TT-BYT tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 1,99 % (Một phẩy chín chín phần trăm). Làm tròn 2% (Hai phần trăm).
3. Kết luận khác: Cơ chế thương tích bả vai trái do tác động ngoại lực bởi vật tày. Thương tích đốt II ngón 4 mặt gan bàn tay phải do tác động ngoại lực trực tiếp bởi vật sắc.
Tại công văn số 137/CV-PY ngày 04/10/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Ninh trả lời đối với cơ chế hình thành thương tích của Nguyễn Ngọc X, Vũ Huy H1 và Nguyễn Khắc Thủy theo Kết luận giám định pháp y số 04/TgT, 05/TgT cùng ngày 19/01/2022 và số 12/Tgt ngày 18/02/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Ninh, như sau:
"1. Đồ vật, hung khí đã thu giữ và con dao bầu như mô tả gây ra được thương tích cho các bị can như giám định, loại trừ: Đoạn gỗ màu nâu đen, hình trụ tròn; đôi dép lê loại dép tổ ong bằng nhựa xốp màu trắng.
2. Thương tích
a. Thương tích đối với Nguyễn Ngọc X tại bản Kết luận số 04/Tgt ngày 19/01/2022:
- Thương tích 1.1. Nhiều khả năng gây ra bởi con dao rựa.
- Thương tích 1.2. Nhiều khả năng gây ra bởi con dao mèo.
- Thương tích 1.3. Nhiều khả năng gây ra bởi con dao bầu.
- Thương tích 1.4; 1.5 Nhiều khả năng gây ra bởi tấm gỗ dạng gỗ cốt pha.
- Thương tích 1.6. Nhiều khả năng di chứng gây ra bởi con dao rựa.
b. Thương tích đối với Vũ Huy H1 tại bản Kết luận số 05/Tgt ngày 19/01/2022:
- Thương tích vai trái, trên xương đòn trái, tương ứng 1/3 ngoài xương đòn trái kích thước 5 x 0.4cm. Nhiều khả năng gây ra bởi con dao rựa.
- Thương tích vùng nách phải, nằm trên đường nách giữa, giáp hố nách phải, kích thước 5 x 0,3cm, bờ mép gọn, liền sẹo tốt. Nhiều khả năng gây ra bởi con dao bầu.
- Thương tích dẫn lưu phần mềm của thương tích vùng nách phải. Là di chứng từ thương tích vùng nách phải.
c. Thương tích đối với Nguyễn Khắc Thủy tại bản Kết luận số 12/Tgt ngày 18/02/2022:
- Thương tích sẹo vùng bả vai trái, cách nếp lằn bả vai cánh tay 6cm, kích thước 2,7cm x 0,1cm, sẹo nông mờ, bờ mép không đều. Nhiều khả năng gây ra bởi tấm gỗ dạng gỗ cốt pha.
Thương tích sẹo ngón 4 đốt II mặt gan bàn tay phải, kích thước 1,5cm x 0,2cm, bờ không đều. Nhiều khả năng gây ra bởi con dao mèo.”
* Kết quả giám định ADN
Tại bản Kết luận giám định số 9428/C09-TT3 ngày 21/01/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ công an, kết luận:
- Trên con dao ký hiệu G1 có bám dính máu của Vũ Huy H1 và Nguyễn Ngọc X;
- Trên con dao ký hiệu G3 có bám dính máu của một người nam giới, không phải là máu của Vũ Huy H1 và Nguyễn Ngọc X;
- Các mẫu ký hiệu M3 và M5 gửi giám định là máu người và là máu của Vũ Huy H1;
- Mẫu ký hiệu M4 gửi giám định là máu người và là máu của Nguyễn Ngọc X.
Ngày 30/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định bổ sung so sánh mẫu ADN của nam giới chưa xác định trên con dao ký hiệu G3 với mẫu ADN thu của Nguyễn Khắc Thủy.
Tại bản Kết luận giám định số 3447/KL-KTHS ngày 30/6/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Kiểu gen của người nam giới để lại trên con dao kí hiệu G3 được lưu tại Viện khoa học hình sự - Bộ Công an theo Kết luận giám định số 9428/C09-TT3 ngày 21/01/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an trùng hoàn toàn với kiểu gen của Nguyễn Khắc Thủy”
* Vật chứng của vụ án
- Thu giữ vật chứng khi khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường số 1:
+ Chất màu nâu đỏ được niêm phong theo quy định ký hiệu M3.
+ 01 chuôi dao màu nâu đen, dạng hình trụ tròn (Chuôi của dao mèo);
+ 01 đai dao bằng kim loại màu đen (miếng kim loại).
Hiện trường số 2:
+ 01 đôi dép tổ ong nhựa xốp màu trắng, là dép của X, khi đi đánh nhau bỏ lại ở hiện trường.
+ 01 con dao không có chuôi dao bằng kim loại màu trắng dài 55cm, một đầu nhọn, có 01 lưỡi sắc, bản rộng nhất 5cm được niêm phong theo quy định, kí hiệu G3.
+ 01 bao dao (loại đao mèo) bằng gỗ màu nâu, bề mặt sơn màu nâu đỏ, có tổng chiều dài 46cm, hai đầu bị dập vỡ.
+ 01 tấm gỗ (loại cốt pha dùng trong xây dựng), hình chữ nhật, dài 1,7m, dày 2cm, một dầu bản to rộng 9,5cm, một đầu bản nhỏ rộng 7cm;
+ 01 xe ô tô BKS 98K- 7344. X khai xe ô tô này của của anh Nguyễn Ngọc Ch, là anh trai X.
+ Chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường cổng chào thôn T ký hiệu M4, chất màu nâu đỏ thu tại tấm gỗ (loại cốt pha) ký hiệu M5.
Thu giữ mẫu máu: Thu của Vũ Huy H1 ký hiệu M1, mẫu máu của long Nguyễn Ngọc X ký hiệu M2; thu giữ mẫu tóc, móng tay của Nguyễn Khắc Thủy để phục vụ việc giám định.
Thu giữ vật chứng giao nộp:
- Bà Ngô Thị Miện giao nộp 01 con dao rựa bằng kim loại màu đen, tổng chiều dài 40cm, chuôi dao hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 03cm, thân dao hình chữ nhật, bản rộng nhất 6,5cm, trên hai mặt thân dao rải rác có bám dính chất màu nâu đỏ, được niêm phong theo quy định kí hiệu G1.
Nguyễn Ngọc X giao nộp 01 chiếc mũ rộng vành, màu trắng đục bằng xốp mềm, đường kính 25cm, cao 18cm (có đặc điểm giống với chiếc mũ của X mà H2 sử dụng tối ngày 17/12/2021).
Vật chứng không thu giữ được: Đối với con dao bầu Thủy dùng chém X và chiếc mũ xốp H2 cầm khi chạy đuổi theo TA. Thủy và H2 đã vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã truy tìm, nhưng không thu hồi được.
Ngày 05/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh trả lại ô tô nhãn hiệu DONGFENG, BKS: 98K - 7344 cho anh Nguyễn Ngọc Ch, chủ sở hữu hợp pháp.
* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo Thủy và TA đã bồi thường cho X và H1, mỗi người 5.000.000 đồng. Chị Lê Thị N (vợ H1), bồi thường cho Nguyễn Khắc Thủy số tiền 3.000.000 đồng; X, H1, Thủy không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại Bản Cáo trạng số: 103/CT-VKS-P2 ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Khắc TA, Nguyễn Khắc Th1 về tội “Giết người” theo các điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; Nguyễn Ngọc X, Vũ Huy H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Lê Nho H2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà ngày hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Các bị cáo TA và Thủy đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, sau khi phạm tội đã đầu thú và thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường thiệt hại; cả 02 bị cáo đều xin lỗi bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất. Đối với các bị cáo H1, X và H2 đều trình bày do nhất thời phạm tội. Bị cáo H1 và X đều đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo Thủy và TA mỗi người là 5.000.000đ, tuy nhiên cả 02 bị cáo đều không yêu cầu bồi thường thêm và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho 02 bị cáo. Bị cáo H1 khai đã bồi thường cho Thủy 3.000.000đ, bị cáo xin lỗi Thủy. Cả 03 bị cáo H1, X và H2 đều trình bày do hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ, nhất thời phạm tội nên đề nghị HĐXX xét xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất và cho hưởng án treo.
Bà Miện khai: Khi Thủy và TA chạy đi có cầm theo dao, bà đuổi theo để can nhưng không kịp. Bà chạy ra căn ngăn và nhặt 01 con dao rựa do TA vứt ở đường và nộp cho CQĐT. Con dao này cũ gia đình bà vẫn để băm rau. Sau khi sự việc xảy ra gia đình bà đã bồi thường cho anh H1 và X mỗi người 5.000.000đ, bà đề nghị giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho 02 bị cáo. Tại phiên tòa gia đình bà có nộp thêm 10.000.000đ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để bồi thường thêm cho H1 và X, nếu 02 người không nhận thì bà xin được nhận lại.
Chị N trình bày: Chị có bồi thường cho Thủy 3.000.000đ, hiện nay gia đình chị khó khăn, 04 con nhỏ, H1 là trụ cột vì vậy đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc TA, Nguyễn Khắc Th1 phạm tội “Giết người”; các bị cáo Vũ Huy H1, Nguyễn Ngọc X, Lê Nho H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc TA từ 09 năm đến 10 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2021, tổng hợp với hình phạt 25 tháng tù của Bản án trước bị cáo chưa chấp hành và được trừ đi thời gian tạm giữ của Bản án này. Phạt bị cáo Nguyễn Khắc Th1 từ 07 năm đến 08 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2021.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vũ Huy H1 từ 16 tháng đến 20 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Ngọc X từ 24 tháng đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Nho H2 từ 08 tháng đến 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Các bị cáo được hưởng án treo phải chịu thời gian thử thách theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết. Trả lại cho gia đình bị cáo Thuỷ và TA 10.000.000đ mới nộp tại phiên tòa. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ các vật chứng.
Bào chữa của bị cáo Nguyễn Khắc TA, luật sư nêu quan điểm: Nhất trí về tội danh. Hình phạt VKS đề nghị là quá nặng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Đầu thú, đã bồi thường, thành khẩn, bố là bệnh binh, ông nội có Huân chương, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị hại cũng có lỗi, vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm e khoản 1 Điều 51 ngoài các tình tiết giảm nhẹ VKS nêu và phạt bị cáo hình phạt thấp nhất. Bị cáo TA nhất trí với ý kiến của luật sư.
Bào chữa cho bị cáo Th1, Luật sư nêu quan điểm: Nhất trí về tội danh. Tuy nhiên không đồng ý với tình tiết có tính chất côn đồ bởi lẽ bị hại cũng có lỗi nặng đối với bị cáo Th1 là dùng dao chém Th1 nên Th1 đã chém lại. Về các tình tiết giảm nhẹ nhất trí như Luật sư bào chữa cho bị cáo TA đã nêu. Nếu không có tình tiết có tính chất côn đồ thì đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS và đề nghị phạt bị cáo 06 năm tù. Bị cáo Thủy nhất trí với ý kiến của Luật sư.
Bị cáo H1 tự bào chữa: Bị cáo nhất trí về tội danh, hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ, nên xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Bị cáo X và H2 xin được hưởng án treo.
Đối đáp với ý kiến của các Luật sư và các bị cáo, đại diện VKS, đối với bị cáo H1 có vai trò chính, là nguyên nhân xảy ra vụ án, vì vậy cần cách ly khỏi xã hội. Tuy nhiên VKS đã đề nghị phạt dưới khung thấp nhất của điều luật là đã thể hiện khoan hồng với bị cáo, vì vậy VKS giữ nguyên quan điểm.
Đối với bị cáo Thủy, Thủy không có mâu thuẫn gì với X. Khi X xin Thủy để đưa H1 đi cấp cứu nhưng Thủy vẫn dùng dao chém vào đầu X, vì vậy có tính chất côn đồ. Đối với TA và Th1, do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại không chết và có một phần lỗi, nên VKS đề nghị phạt dưới khung thấp nhất của điều luật là phù hợp. VKS giữ nguyên quan điểm.
Các bị cáo nói lời sau cùng, đều nhận thấy lỗi lầm và ăn năn hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất. Bị cáo H1, X và H2 xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị cáo X, trước khi mở phiên tòa bị cáo có đơn từ chối Luật sư, vì vậy bị cáo có quyền tự bào chữa theo quy định.
. Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, chứng nhận thương tích; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 17/12/2021, trên đường đi uống rượu về, do hiểu nhầm TA chặn đường mình nên Vũ Huy H1 đã rủ H2 và X đi đánh “dằn mặt” TA. X, H1 và H2 đã đuổi đánh TA, khi đuổi H1 có cầm theo con dao mèo (dao do X để từ trước trên xe ô tô để phạt cây). Trong khi đó, TA chạy thoát về nhà thì đã gọi anh ruột là Nguyễn Khắc Th1 đi ra để đánh nhau với nhóm của H1. Th1 cầm 01 con dao bầu, có 01 lưỡi sắc, dài 30cm. TA cầm 01 con dao rựa dài khoảng 40cm, bản rộng nhất 6,5cm. Khi hai bên gặp nhau, thì H1 cầm dao mèo chém Th1. Th1 giơ tay phải gạt dao làm lưỡi dao mèo rời khỏi chuôi dao rơi xuống đất. Tay trái của Th1 cầm dao bầu đâm 01 nhát trúng vào nách phải của H1. H1 liền bỏ chạy, Th1 nhặt lưỡi dao mèo lên (đã rời chuôi cầm bằng gỗ) và cùng TA chạy đuổi theo H1. H1 chạy một đoạn thì nhặt 01 thanh gỗ cốt pha, dài 1,7m, dày 2cm vụt ngang trúng vào vai trái của Th1. TA đi đến, cầm dao rựa chém 01 nhát trúng vào vai trái của H1 thì H1 vứt tấm gỗ lại và bỏ chạy. Th1 và TA tiếp tục đi đến đánh X. Tay trái Th1 cầm dao bầu chém 01 phát trúng mạn sườn phải của X. TA cầm dao rựa chém 01 nhát trúng đỉnh đầu X. Th1 ném con dao bầu đi, rồi lấy tay trái cầm lưỡi dao mèo chém 01 nhát trúng đầu của X. Lúc này, ông Đỗ Văn S - là Trưởng thôn đi đến, Thủy đưa con dao mèo cho ông S, rồi Th1 nhặt thanh gỗ cốt pha mà H1 bỏ lại, vụt 01 cái trúng vào chân của X.
HĐXX nhận thấy, mặc dù trước đó TA bị nhóm H1 đuổi đánh nhưng TA đã chạy thoát về nhà. Ngay sau đó TA và Thủy đã cầm dao rựa và dao bầu đều là hung khí nguy hiểm chạy ra mục đích để đánh lại nhóm H1. Các bị cáo đã dùng dao đâm, chém nhiều nhát vào vùng nách, sườn, đầu của H1 và X, đây đều là vùng trọng yếu của cơ thể con người. Các bị cáo buộc phải nhận thức được hậu quả có thể dẫn tới chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện bỏ mặc hậu quả xảy ra, vì vậy hành vi của các bị cáo thể hiện tính chất côn đồ. Vũ Huy H1 và Nguyễn Ngọc X không chết là ngoài ý muốn của các bị cáo, hậu quả H1 bị thương tích 5%, X bị thương tích 25%. Vì vậy, có căn cứ xét xử các bị cáo Nguyễn Khắc TA và Nguyễn Khắc Thủy phạm tội “Giết người” theo các điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Ý kiến của Luật sư cho rằng hành vi của Thủy không có tính ch côn đồ là không có cơ sở như đối đáp của đại diện VKS là phù hợp.
Đối với H1 có dùng dao và dùng tấm gỗ cốt pha đánh Thủy dẫn đến Thủy bị thương tích 2%, Thủy có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho H1 vì vậy CQĐT, VKS không xem xét H1 về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp. Tuy nhiên Vũ Huy H1 là người rủ rê X và H2 đi đánh TA, Nguyễn Ngọc X lái xe ô tô chở H1 và H2, sau đó bị cáo đã cầm dao mèo đuổi cùng X và H2 đuổi đánh TA. Hậu quả dẫn tới vụ án giết người mà bản thân bị cáo và X là bị hại trong vụ án. Hành vi của 03 bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, vì vậy HĐXX thấy có căn cứ xét xử các bị cáo Vũ Huy H1 và Nguyễn Ngọc X về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Nho H2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của các bị cáo TA và Thủy là đặc biệt nguy hiểm, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của 5 bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, gây bất ổn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa Ch.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:
Đây là vụ án đồng phạm, tuy nhiên các bị cáo TA và Thủy; H1, X và H2 đều không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể trước khi thực hiện tội phạm, nên không có yếu tố đồng phạm có tổ chức.
Đối với tội Giết người, TA là người gọi Th1 đi đánh nhau nhưng TA và Th1 cùng trực tiếp thực hiện hành vi đâm, chém vào vùng trọng yếu của cơ thể H1 và X, gây thương tích cho H1 5% và X 25%, nên có vai trò ngang nhau. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo TA có nhân thân xấu, ngày 21/4/2022 bị TAND huyện TT xét xử 25 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, (bị cáo chưa chấp hành án phạt tù) nhưng bị cáo không rút ra bài học cho bản thân, trong thời gian điều tra, truy tố vụ án trên bị cáo lại tiếp tục có hành vi phạm tội trong vụ án này, thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên cần có hình phạt cao hơn so với Th1. Về tình tiết giảm nhẹ: Hai bị cáo là anh em ruột, sau khi phạm tội cả hai bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho H1 và X; H1 và X không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo; các bị hại H1 và X có một phần lỗi; bố đẻ của hai bị cáo là Bệnh binh, ông nội là Nguyễn Khắc Nha được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì – thuộc người có công với cách mạng; TA có thời gian phục vụ trong quân đội, vì vậy cả 02 bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và 04 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội chưa đạt, bị cáo Thủy cũng bị H1 chém và dùng thanh cốt pha vụt gây thương tích nhẹ nên cần chiếu cố khoan hồng áp dụng Điều 54, Điều 57 phạt dưới khung thấp nhất của Điều luật, buộc cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo. Bị cáo TA đã có Quyết định thi hành án đối với Bản án số: 25/2022/HSST ngày 21/4/2022, do đó tại Bản án này HĐXX không tổng hợp hình phạt của 02 Bản án, mà sau khi Bản án này có hiệu lực pháp luật thì sẽ tổng hợp theo quy định.
Đối với các bị cáo trong nhóm “Gây rối trật tự công cộng”: H1 có vai trò chính, bị cáo đã rủ rê X và H2 đi tìm TA để đánh “dằn mặt”. Bị cáo cũng chính là người cầm dao mèo và thanh gỗ cốt pha chém, vụt Thủy. Đối với X và H2 có vai trò thấp hơn H1. Cả 3 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải; bị cáo H1 gây thương tích cho Thủy đã tự nguyện bồi thường cho bị cáo Thủy và được Thủy xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có công cứu giúp người đuối nước, vì vậy bị cáo H1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, nên cần chiếu cố khoan hồng áp dụng Điều 54 phạt bị cáo dưới khung thấp nhất của Điều luật nhưng cần buộc bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo.
Đối với bị cáo X và H2, có vai trò thứ yếu trong vụ án, có nhân thân tốt; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải; bị cáo X có ông nội là cán bộ tiền khởi nghĩa, gia đình có công. Bị cáo H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có công tố giác tội phạm có xác nhận của trưởng công an xã H, gia đình bị cáo đang thờ cúng Liệt sĩ Lê Nho Thăng. Vì vậy bị cáo X được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo H2 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, đối với 02 bị cáo X và H2 có vai trò thứ yếu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly ngoài xã hội mà cho các bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục, cải tạo.
. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, H1 và X đều không đề nghị gì thêm, nên không đề cập giải quyết. Đối với khoản tiền 10.000.000đ gia đình bị cáo TA và Thủy nộp tại Cục THADS tỉnh Bắc Ninh để bồi thường thêm cho H1 và X, H1 và X tự nguyện không nhận, vì vậy trả lại cho gia đình 02 bị cáo.
. Về vật chứng: Toàn bộ các vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
. Về các vấn đề khác: Đối với chiếc xe ô tô BKS: 98K -7344 mà bị cáo X chở H1 và H2 đi đánh nhau là tài sản của anh Nguyễn Ngọc Ch giao cho X quản lý, sử dụng. Anh Ch không biết việc X dùng để đi đánh nhau nên Cơ quan công an trả lại cho anh Ch là phù hợp với pháp luật.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc TA, Nguyễn Khắc Th1 phạm tội “Giết người”; các bị cáo Vũ Huy H1, Nguyễn Ngọc X, Lê Nho H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1.1. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc TA 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2021.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc Th1 07 (Bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2021.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục duy trì Quyết định tạm giam số: 186/2022/HSST-QĐTG và số: 187/2022/HSST-QĐTG ngày 07/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với Nguyễn Khắc TA và Nguyễn Khắc Th1 để đảm bảo thi hành án.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Huy H1 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc X 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Nho H2 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Ngọc X và bị cáo Lê Nho H2 cho UBND xã H, huyện TT, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh gỗ dạng cốt pha; 01 đôi dép tổ ong; 01 đoạn gỗ màu đen dạng hình trụ tròn (chuôi dao mèo); 01 vỏ bao dao mèo; 01 đai dao bằng kim loại màu đen; 01 hộp cát tông chứa mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong, có dấu tròn theo KLGĐ số 9428/C09-TT3 ngày 21/01/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an (trong đó có 02 con dao).
(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 03/2023 ngày 06/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
- Trả lại cho ông Nguyễn Khắc Tr 10.000.000 đồng theo 02 Biên lại thu tiền số 0000691 và 0000692 ngày 21/11/2022. Tạm giữ 400.000đ (theo 02 biên lai) để đảm bảo thi hành tiền án phí cho 02 bị cáo TA và Thủy.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Khắc TA, Nguyễn Khắc Th1, Vũ Huy H1, Nguyễn Ngọc X, Lê Nho H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuyến
Đinh Xuân Tuấn
Nghiêm Thị Lượng Đinh Văn Luận
Nguyễn Thị Bẩy
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - CQCSĐT (PC 01; PV 27) Công an tỉnh Bắc Ninh; - Phòng PC 10 Công an tỉnh Bắc Ninh; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; - UBND xã nơi bị cáo thường trú; - Bị cáo; người tham gia TT; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nghiêm Thị Lượng |