vanban.org

Bản án 126/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 08/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Tòng Văn T 09(Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Tòng Văn T 09(Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:126/2022/HSST
Ngày 08/8/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Hiển

2. Bà Nguyễn Thị Chấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tứ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022, theo quyết định đưa ra xét xử số 108/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Tòng Văn T, sinh năm 2000 tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Tòng Văn O; Họ tên mẹ: Tòng Thị P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án; Tiền án: Bản án số 22/2019/HSST ngày 01/8/2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản- chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2019(Chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt truy nã ngày 05/5/2022, bị tạm giữ từ ngày 05/5/2022 đến ngày 13/5/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ

- Công an huyện G. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn T: Ông Lê Quang Đ, Trợ gúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Anh Lưu Quốc V, sinh năm 2002. Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 13/4/2020, Tòng Văn T – sinh 2000, trú tại: Bản H, thị trấn T, huyện T, Lai Châu đi bộ từ phòng trọ ở Đường Đ, thị trấn T, huyện G, Hà Nội đến nhà anh Lưu Quốc V – Sinh 2002 ở thôn Đ, xã Đ, huyện G, Hà Nội mục đích vay tiền của anh V để về quê. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T đến nhà anh V thấy cửa khép không khóa, T mở cửa đi vào thấy anh V và anh Lưu Quốc P1 – sinh 1999 đang ngủ trong nhà, T nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6plus màu vàng của anh V đang cắm sạc pin ở dưới nền nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T liền rút chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6plus màu vàng khỏi sạc rồi T để chế độ máy bay và cất vào túi áo khoác ngực bên trái của T đang mặc rồi đi ra khu vực thị trấn Q để tìm chỗ bán điện thoại vừa lấy trộm của anh V. Anh V khi tỉnh dậy phát hiện bị mất điện thoại có nghi ngờ là T lấy trộm nên đã cùng với anh Nguyễn Văn L – sinh 1998, trú tại thôn C, xã C, huyện G, Hà Nội đi tìm T. Khi đi đến khu vực gần Ủy ban nhân dân huyện G thì anh V và anh L bắt gặp T thì T đã lấy từ trong túi áo khoác ngực bên trái của T đang mặc chiếc điện thoại Iphone 6plus màu vàng vừa lấy trộm trả cho anh V. Sau đó anh V đã trình báo Công an thị trấn Q thuộc Công an huyện G và đưa T cùng tang vật về trụ sở cơ quan Công an để làm rõ.

Vật chứng thu giữ Tòng Văn T: 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 6plus màu vàng cũ đã qua sử dụng, góc trên màn hình bị vỡ lớp kính cường lực, IMEI: 354387066456487, số điện thoại: xxxxxxxxxx.

Kết luận định giá tài sản số 52 ngày 27/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Gia Lâm kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 6Plus màu vàng, số Imei: 354387066456487 đã qua sử dụng có giá trị 1.800.000 đồng

Ngày 26/5/2020, Cơ quan điều tra đã ra trả lại cho anh Lưu Quốc V chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 6plus màu vàng cũ đã qua sử dụng. Anh V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Tòng Văn T. Cơ quan điều tra triệu tập T nhiều lần nhưng bị cáo T bỏ trốn không có mặt tại địa phương. Ngày 03/8/2020, Cơ quan điều tra – Công an huyện G đã ra Lệnh bắt bị cáo để tạm giam đối với Tòng Văn T nhưng T bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày 08/8/2020, Cơ quan điều tra – Công an huyện Gia Lâm đã ra Quyết định truy nã số 13 đối với Tòng Văn T. Đến ngày 05/5/2022, Tòng Văn T bị Công an phường N, quận H, Hà Nội bắt tại tổ dân phố 26, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu theo quyết định truy nã số 13 của Cơ quan điều tra – Công an huyện G sau đó đã bàn giao cho cơ quan CSĐT – Công an huyện T ra Quyết định tạm giữ đối với Tòng Văn T. Đến ngày 13/5/2022, cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã bàn giao bị cáo Tòng Văn T cho Cơ quan điều tra – Công an huyện G để điều tra. Tại cơ quan điều tra Tòng Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 105/CT-VKSGL ngày 15 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Tòng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015-sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Tòng Văn T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi Trộm cắp tài sản như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt Tòng Văn T từ 06 tháng đến 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị không xem xét.

* Người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn T: Đề nghị Hội đồng xét căn cứ việc bị cáo thuộc hộ nghèo và là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thực pháp luật còn hạn chế. Đồng thời, tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ ngày 13/4/2020, tại thôn Đ, xã Đ, huyện G, Hà Nội, bị cáo Tòng Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 6Plus màu vàng, đã qua sử dụng có giá trị 1.800.000 đồng của anh Lưu Quốc V. Mặc dù tài sản Tòng Văn T chiếm đoạt trị giá dưới 02 triệu đồng nhưng trước đó ngày 01/8/2019, Tòng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện T, Lai Châu xử 06 tháng tù giam vì tội Trộm cắp tài sản, ngày 18/9/2019 Tòng Văn T chấp hành xong bản án đến ngày 13/4/2020 thì tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

....

b)Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168,169,170,171,172,174,175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

Về nhân thân: Ngày 30/3/2016, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng đối với Tòng Văn T về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 03/4/2018, bị cáo đã chấp hành xong. Do bị cáo chưa thành niên ở thời điểm phạm tội nên không xác định đây là tiền sự. Ngoài ra, bị cáo Tòng Văn T có 01 tiền án cùng loại tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Điều này chứng tỏ bị cáo đã được giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng cố tình phạm tội, cần áp dụng hình phạt tù giam tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục cũng như phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đồng thời, tại bản án số 22/2019/HSST ngày 01/8/2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu thể hiện bị cáo có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận được tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, Người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử phạt: Bị cáo Tòng Văn T 09(Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2022.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ