- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông N với ông T"
- Tòa quyết gì? Căn hoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2022/DS-PT Ngày: 19/7/2022 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH A
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
- Các thẩm phán:
1. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng;
2. Ông Trần Minh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa M , thư T a án nh n d n tỉnh A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A: Ông Dư ng Quy Thái
- i m sát viên.
Do bản án d n sự s thẩm số 273/2019/DS-ST ngày 28/11/2019 và Quyết định sửa chữa bổ xung bản án s thẩm số 47/2019/TB-SCBSBA ngày 13/12/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh A bị háng cáo.
Ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở T a án nh n d n tỉnh A xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số: 78/2020/TLPT-DS ngày 28/02/2020 về việc tranh chấp: u n s d n
t theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2020/QĐPT-DS ngày 23/4/2020, Quyết định ho n phiên t a số 116/2019/QĐ-PT ngày 27/5/2020, Quyết định tạm ngừng phiên t a số 111/QĐ-PT ngày 18/6/2020, Thông báo mở lại phiên t a số 572/TB-TA ngày 30/11/2020, Quyết định tạm ngừng phiên t a số 134/QĐPT-DS ngày 17/12/2020, Thông báo mở lại phiên t a số 161/TB-TA ngày 23/02/2022, Quyết định ho n phiên t a số 81/2022/QĐ-PT ngày 23/3/2022, Thông báo mở lại phiên t a số 475/2022/TB-TA ngày 27/5/2022, Quyết định ho n phiên t a số: 173/2022/QĐ-PT ngày 27/6/2022 giữa các đư ng sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Công N, sinh năm 1950; bà Trần Thị Th, sinh năm 1952; cùng cư trú: Tổ 23, ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A, ông N đại theo ủy quyền cho bà Th, theo văn bản ủy quyền ngày 08/03/2022 (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ 23, ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A, ông T đại diện theo ủy quyền cho bà H (vợ ông) háng cáo, theo giấy ủy quyền ngày 04/05/2022 (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đ n ông Lê Văn T là Luật sư Lê Văn Ph thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nh n d n huyện C, tỉnh A; địa chỉ: ấp Thị, thị trấn C, huyện C, tỉnh A (xin vắng mặt).
3.1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1936 (chết 17/04/2020), ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 gồm:
- Ông Lê Văn h, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A. (vắng mặt).
- Bà Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1960; cư trú: Tổ 3, nhà số 08, ấp Long H a, thị trấn C, huyện C, tỉnh A (có mặt).
- Bà Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1968; cư trú: ấp Long Phú 2, xã Long Điền B, huyện C, tỉnh A (vắng mặt).
- Ông Lê Văn , sinh năm 1963, cư trú: Tổ 69, nhà số 60D, ấp Thị 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh A (có mặt).
- Ông Lê Văn Tr, sinh năm 1965, cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A. (vắng mặt).
- Ông Lê Văn T, sinh năm 1971; cư trú: Tổ 23, ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A (có mặt).
3.2. Bà Nguyễn im H, sinh năm 1973 (vợ ông T) Uỷ quyền cho ông T đại diện tham gia tố tụng tại t a phúc thẩm, theo giấy ủy quyền (ngày 04/05/2022).
3.3. Bà Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1960;
3.4. Bà Lê Thị im Ng, sinh năm 2000;
3.5. Ông Lê Phú Đ, sinh năm 2005;
Cùng cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A (vắng mặt).
N ười ại diện hợp pháp của Lê Phú Đ là bà Nguyễn im H và ông Lê Văn T (ông T có mặt).
3.6. Ông Lê Tấn Đ1, sinh năm 1988; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A (vắng mặt).
3.7. Ông Lê Quốc Đ2, sinh năm 1999; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A (vắng mặt).
N ười ại diện hợp pháp của ôn Đ1 và ôn Đ2 là: Ông Lê Công N, sinh năm 1950; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A; đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 04/9/2019.
3.8. Lê Thị Trúc L, sinh năm 1992 và ông Trần Văn Th, sinh năm 1991; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A.
3.9. Cháu Trần Gia B, sinh năm 2010 và cháu Trần Gia H, sinh năm 2017; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A.
N ười ại diện hợp pháp của cháu B và cháu H: Bà Lê Thị Trúc L, sinh năm 1992, do ông Trần Văn Th, sinh năm 1991; làm đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
N ười ại diện ủ qu n hợp pháp của bà L và ôn Th: Ông Lê Công N, sinh năm 1950; địa chỉ: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A; là đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 09/9/2019.
3.10. Bà Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A (vắng mặt).
3.11.Cháu Đinh Ngọc H và Đinh Ngọc M; địa chỉ: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A
N ười ại diện hợp pháp của cháu Hạnh và cháu Minh: Bà Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1968; làm đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
3.12. Ông Lê Văn , sinh năm 1956; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A, (vắng mặt).
3.13. Ông Lê Thanh Kh, sinh năm 1981; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A, (vắng mặt).
3.14. Nguyễn Ngọc Q; cư trú: ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A (vắng mặt).
- Người kháng cáo: N u ên ôn ơn Lê Công N, bà Trần Thị Th; bị ơn ông Lê Văn T, n ười có qu n lợi n hĩa v liên quan bà N u ễn Kim H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Công N trình ày:
Nguồn gốc đất tranh chấp do ông nội của ông là ông Lê Văn H cho cha ông là ông Lê Văn S sử dụng, đến năm 1990 cha ông mất, mẹ ông là bà Bùi Thị T cho ông diện tích đất thổ cư 204 m2 vào năm 2000, việc cho hông làm giấy tờ, hông có văn bản thỏa thuận, đến năm 2013 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông và vợ ông là bà Trần Thị Th đứng tên. Vào hoảng năm 2013 ông có chuy n nhượng cho ông Trần Văn Nh diện tích 63m2. Hiện nay ông c n sử dụng 141m2. Năm 2009, ông Lê Văn T x y dựng nhà, trong hi x y dựng phía gia đình ông có gặp ông T trao đổi việc ông T x y dựng nhà lấn qua phần đất của ông, nhưng phía gia đình ông T vẫn cố tình x y dựng, ông có thưa ra chính quyền địa phư ng, nhưng h a giải hông thành, hiện nay thì phần đất của ông T x y lấn qua phần đất ông được cấp quyền sử dụng đất, theo bản vẽ của Văn ph ng ph ng đăng đất đai – Chi nhánh huyện C đo ngày 22/6/2016 thì phần nhà chính ông T là 3,6m2 và phần s n 1,2 m2, việc ông T xây nhà ông biết và có yêu cầu địa phư ng giải quyết nhưng hông thành, ông vẫn đ cho ông T x y dựng, sở dĩ cho ông T x y dựng nhà là do chờ giải quyết của c quan có thẩm quyền xác định ranh đất. Nay ông yêu cầu ông T trả lại diện tích lấn chiếm theo s đồ thuật đo vẽ hu đất tranh chấp ngày 22/6/2016 gồm phần nhà chính là 3,6m2 và phần s n 1,2m2, Ông tự nguyên rút lại yêu cầu hởi iện đối với diện tích đất 25,2m2 do phần này ông hông tranh chấp. Nguyên đ n bà Trần Thị Th (vợ ông N) thống nhất với iến, yêu cầu của ông T, bà H trả đất lấn chiếm như ông N yêu cầu. Riêng đối với ông Lê Văn Tư, bà Lê Thị Thanh T3, Đinh Ngọc M, Đinh Ngọc H, Lê Phú Đ, Lê Thị im Ng, Lê Văn , Lê Thanh Kh, Nguyễn Ngọc Qu, bà Lê Thị Thanh T2 ông, bà hông có tranh chấp đối với những người này, do những người này cũng hông ở trên đất tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án ị đơn ông Lê Văn T trình ày:
Nguồn gốc đất tranh chấp của ông bà đ lại, ông sử dụng đất từ năm 2009, năm 2013 phát sinh tranh chấp đến nay. Ông N và bà Th yêu cầu ông giao trả đất phần nhà chính là 3,6m2 và phần s n 1,2m2 ông hông đồng , l do đất do c quan Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho ông và cấp cho ông N hông đúng hiện trạng sử dụng theo quy định pháp luật. Căn cứ vào tờ nhượng đất của ông bà từ thời xưa và căn cứ vào móc ranh từ trước năm 2000 hi cắm ranh đất các bên sử dụng đất có mặt và thống nhất tên xác định móc ranh, ông xác định đất ông N được cấp quyền sử dụng đất ông có tên tứ cận, hông đồng yêu cầu hởi iện của ông N và bà Th vì vợ chồng ông sử dụng đất đúng theo hiện trạng đất được cấp quyền sử dụng đất, ông yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01820, số thửa 161, tờ bản đồ số 5, diện tích 141,0 m2, đất ở nông thôn, do Ủy ban nhân d n huyện C cấp ngày 02/8/2013 cho ông Lê Công N và bà Trần Thị Th đứng tên, đất tọa lạc tại ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03440, số thửa 13, tờ bản đồ số 5, diện tích 1245 m2, đất ở nông thôn, do Ủy ban nh n d n huyện C cấp ngày 10/4/2000 cho ông Lê Văn T đứng tên, đất tọa lạc tại ấp Long Phú 2, x Long Điền B, huyện C, tỉnh A, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà H (vợ ông T) thống nhất iến và yêu cầu ông T.
Đối với những người liên quan: Ông Lê Văn Tư (cha ông T), bà Lê Thị Thanh T3, ông Đinh Ngọc M, bà Đinh Ngọc H, ông Lê Phú Đ, bà Lê Thị im Ng, ông Lê Văn , ông Lê Thanh h, bà Nguyễn Ngọc Q, bà Lê Thị Thanh T2 hông ở trên phần đất tranh chấp giữa ông N, bà Th với ông T, bà H, các hộ ở trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T được cấp quyền sử dụng đất hông liên quan đến yêu cầu hởi iện của ông N, bà Th.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là y an nhân nhân dân huyện C có ý kiến trình ày: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01820 ngày 02/8/2013, thuộc thửa đất số 161, tờ bản đồ số 05, diện tích 141m2 cấp cho ông Lê Công N, bà Trần Thị Th là đúng đối tượng và trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật; Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03440/cB ngày 10/4/2000, thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.245m2 cấp cho ông Lê Văn T là đúng đối tượng và trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật (CV số 1270/UBND-NC ngày 13/7/2018 BL54), bà Lê Thị Thanh T3, ông Lê Văn , ông Lê Thanh h, bà Nguyễn Thị Ngọc Q đ được tống đạt thông báo thụ l vụ án và tham gia phiên họp i m tra việc giao nộp, tiếp cận, công hai chứng cứ và h a giải nhưng vắng mặt, hông tham gia các phiên h a giải trong suốt quá trinh giải quyết vụ án.
Tại bản án d n sự s thẩm số 273/2019/DS-ST ngày 28/11/2019 và Quyết định sửa chữa bổ sung bản án s thẩm số 47/2019/TB-SCBSBA ngày 13/12/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh A, quyết định:
Căn cứ: Điều 166 Bộ luật d n sự năm 2015; Điều 3, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 28; 35; 39; 144, 146, 147, 217, 228, 235, 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông Lê Công N, bà Trần Thị Th.
- Buộc ông Lê Văn T phải tháo, dỡ, di dời các vật công trình iến trúc có trên đất đ trả lại diện tích đất 1,2m2 tại các mốc đi m 16,17, 20, 21 theo s đồ hiện trạng hu đất tranh chấp do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh C đo vẽ ngày 22/6/2016.
- Buộc ông Lê Văn T có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 1.080.000 đồng (một triệu hông trăm tám mư i ngàn đồng) cho ông Lê Công N, bà Trần Thị Th diện tích lấn chiếm 3,6m2 tại các móc đi m 16, 17, 34 theo s đồ hiện trạng hu đất tranh chấp do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh C đo vẽ ngày 22/6/2016.
- Ông Lê Văn T được quyền sử dụng diện tích đất 3,6m2 theo các mốc đi m 16, 17, 34 theo s đồ hiện trạng hu đất tranh chấp do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh C đo vẽ ngày 22/6/2016.
- Đình chỉ yêu cầu hởi iện của ông Lê Công N, bà Trần Thị Th đối với diện tích đất tranh 25,2 m2.
- hông chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn T.
Các đư ng sự phải đến c quan Nhà nước có thẩm quyền ê hai, đăng , điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (S đồ hiện trạng hu đất tranh chấp giữa ông Lê Công N, bà Trần Thị Th với ông Lê Văn T do Văn ph ng Đăng đất đai Chi nhánh C đo vẽ ngày 22/6/2016 là một phần của bản án, hông th tách rời.
T a s thẩm c n tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí s thẩm, l i suất chậm thi hành án, quyền háng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 06/12/2019 nguyên đ n ông N, bà Th háng cáo hông đồng nhận tiền giá trị đất, yêu cầu hộ ông T trả đất 3,6m2, tại đ n yêu cầu ngày 19/3/2020 ông N nêu iến nếu giữ nguyên hiện trạng thì phải thỏa thuận bồi thường thỏa đáng cho ông, ngày 11/12/2019 bị đ n ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà H háng cáo yêu hủy án s thẩm.
Nội dung tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
Phát bi u bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đ n ông T, bà H, Luật sư Phúc cho rằng ông T được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất diện tích 1245m2 ngày 10/04/2000 đất ở nông thôn đúng đối tượng sử dụng đất, đúng hiện trạng đất, quá trình giải quyết vụ án T a s thẩm chưa xem xét toàn diện chứng cứ tại hồ s , vi phạm tố tụng, nên đề nghị T a phúc thẩm chấp nhận háng cáo của ông T, bà H hủy án s thẩm, ông T, bà H (ông T đại diện theo ủy quyền cho bà H) cho rằng Tòa án s thẩm vi phạm tố tụng đó là: Ghi sai năm sinh của ông, ghi sai năm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N, bà Th được cấp, hông đưa vợ chồng ông Nh người nhận chuy n nhượng 63m2 đất ông N tham gia tố tụng, ông hông được hồ s tách bộ chuy n quyền sử dụng đất giữa ông N với ông Nh, tựa đề Bản án s thẩm hông ghi quan hệ pháp luật ông yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên yêu cầu hủy án s thẩm, theo đó ông T, bà H (ông T đại diện theo ủy quyền cho bà H) xác định hông iến gì về ết quả định giá, hông yêu cầu thẩm tra đo đạc lại đất tranh chấp, hông cung cấp thêm chứng mới cho t a án, vợ chồng ông hông đồng trả đất, hông đồng trả giá trị đất đối với diện tích 3,6m2 như yêu cầu ông N, bà Th, yêu cầu T a án xét xử vụ án theo pháp luật.
Phát bi u tranh luận lại iến Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông T, bà H (do ông T đại diện), iến của ông T bà H (ông T đại diện theo ủy quyền cho bà H), ông N bà Th (ông N đại diện cho bà Th) cho rằng ông được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất diện tích diện tích 141m2 đúng hiện trạng đất sử dụng đất, gia đình ông T cất nhà lấn chiếm đất ông diện tích 3,6m2 được chứng minh tại bản vẽ ngày 22/06/2016, ông giữ nguyên yêu cầu háng cáo, là yêu cầu gia đình ông T trả đất lấn chiếm cho ông, ông thống nhất ết quả đo vẽ, thống nhất ết quả định giá đất ngày 08/06/2015, hông yêu cầu định giá lại theo giá thị trường), nếu gia đình ông T bà H muốn sử dụng 3,6m2 đất thì phải trả giá trị đất cho ông với giá 30.000.000 đồng, ông N xác định hông cung cấp chứng cứ mới cho Tòa phúc thẩm.
Đại diện Viện i m sát nh n d n tỉnh A phát bi u iến về việc tu n theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án xác định Thẩm phán được ph n công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung: i m sát viên nhận thấy, trên c sở chứng cứ có tại hồ s , ết quả thẩm tra tại phiên t a phúc thẩm đ có đủ căn cứ xác định, ôngThức x y dựng nhà nằm trong quyền sử dụng đất của ông N 4,8m2, trong đó (phần nhà chính 3,6m2, phần s n nhà 1,2m2 theo s đồ đo đạc ngày 22/6/2016) phần đất 3,6m2 là vị trí của căn nhà chính của ông T, nếu buộc tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến ết cấu căn nhà, nên ông T trả giá trị đất của 3,6m2 và ông T tháo gỡ vật iến trúc trả lại cho Niệu 1,2m2 là phù hợp. T a s thẩm đ đánh giá toàn diện chứng cứ, nhu cầu sử dụng đất lấn chiếm, iến yêu cầu của ông N, bà Th, ông T bà H xử buộc ông T trả giá trị đất diện tích 3,6m2 trị giá 1.080.000 đồng cho ông N, bà Th; buộc ông T giao trả diện tích đất 1,2m2 theo các mốc đi m 16, 17, 20, 21 của s đồ đo đạc ngày 22/6/2016 cho ông N bà Th, hông chấp nhận yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T là có căn cứ. Bản án s thẩm có thiếu sót như ông T trình bày, nhưng thiếu sót này hông nghiêm trọng, hông làm ảnh hưởng đến bản chất vụ án nên việc ông T đề nghị hủy án hông có c sở đ chấp nhận, ông N bà Th, ông T bà H kháng cáo nhưng hông cung cấp được chứng cứ mới nên hông có căn cứ xem xét yêu cầu háng cáo của các đư ng sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ hoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015 hông chấp nhận háng cáo của ông N bà Th, ông T bà H, giữ nguyên bản án s thẩm buộc các đư ng sự chịu chi phí tố tụng, án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án, ết quả thẩm tra tại phiên t a, ết quả tranh luận, iến của i m sát viên, Luật sư, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
Đ n háng của nguyên đ n ông N bà Th, bị đ n ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà H háng cáo trong hạn luật định, nộp án phí phúc thẩm đúng quy định, nên được chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nh n nh n d n huyện C, ông Lê Văn Tư, bà Lê Thị Thanh T3, ông Đinh Ngọc M, bà Đinh Ngọc H, ông Lê Phú Đ, bà Lê Thị im Ng, ông Lê Văn , ông Lê Thanh h, bà Nguyễn Ngọc Q, bà Lê Thị Thanh T2 hông có việc tranh chấp quyền sử dụng đất với nguyên đ n, bị đ n, tuy các đư ng sự vắng tại phiên t a, nhưng việc háng cáo của ông N bà Th, ông T bà H hông ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đư ng sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đư ng sự là đúng quy định Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, cụ th tại phiên t a ngày 23/03/2022 nguyên đ n ông N yêu cầu T a phúc phẩm định giá lại đất tranh chấp đ bảo vệ quyền lợi cho ông,T a phúc thẩm ho n phiên tòa, ngày 04/05/2022 ông N nộp đ n yêu cầu định giá lại đất tranh chấp, cũng trong ngày 04/05/2022 ông N lại hông yêu cầu định giá lại đất tranh chấp theo giá thị trường, đồng đ t a phúc thẩm căn cứ vào ết quả định giá của t a s thẩm đ xét xử ( hông thắc mắc gì đối đối với ết quả định giá của t a s thẩm) đ xét xử phúc thẩm (ông N trực tiếp ghi nội dung nêu trên vào đ n yêu cầu định giá lại đề ngày 04/05/2022 và tên), tại phiên t a phúc thẩm hôm nay ông N đồng đ Hội đồng xét xử căn cứ vào ết quả định giá đất tranh chấp của T a s thẩm 08/6/2015 đ xét xử vụ án này, nên T a phúc thẩm căn cứ vào giá định giá đất tranh chấp ngày 08/6/2015 đ xét xử là đúng pháp luật.
Ông N, ông T không yêu cầu đo đạc lại đất tranh chấp, thống nhất ết quả định giá của T a s thẩm làm căn cứ xét xử vụ án, yêu cầu Tòa án xét xử vụ án theo pháp luật, nên Hội đồng xét xử hông đề cập đến nội dung này.
Về nội dung:
Xét nội dung yêu cầu háng cáo của nguyên đ n ông N bà Th, bị đ n ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà H, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ s , ết quả tranh luận tại phiên t a phúc thẩm, iến của Luật sư, đề nghị của i m sát viên, Hội đồng xét xử thấy:
Đối tượng tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông N, bà Th với ông T, bà H trong vụ án này là 4,8m2 (trong đó 3,6 m2 một phần căn nhà chính và 1,2 m2 phần đất s n nhà ông T) do ông T bà H đang sử dụng (đ n hởi iện ngày 26/02/2015 ông N bà Th chỉ yêu cầu ông T trả 30m2 đất ở hông yêu cầu bà H trả đất BL09, tại phiên t a s thẩm ông N bà Th rút một phần yêu cầu hởi iện, hông yêu cầu ông T trả 25,5m2, chỉ yêu cầu gia đình ông T trả 4,8m2 (phiên tòa s thẩm ngày 28/11/2019 BL202 đến BL205). Chứng cứ th hiện ông N bà Th được cấp lại (do sang tên tách bộ chuy n nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn Nh 63m2) quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất diện tích 141m2 ngày 02/8/2013 BL01, (nguồn gốc đất này do bà Bùi Thị Tỷ mẹ ông N cho Niệu diện tích 204m2 năm 1999), ông N được cấp quyền sử dụng đất 204m2 ngày 14/04/2000 èm theo bản vẽ, năm 2013 ông N chuy n nhượng (Hợp đồng chuy n nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/2013, BL91,92) cho ông Trần Văn Nh 63m2 trong diện tích 204m2 do ông N đứng tên, các bên tách bộ chuy n quyền sử dụng đất theo quy định, ông N còn lại 141m2 ngày 02/8/2013 (hồ s cấp quyền sử dụng đất cho ông N BL 87, 88, 89, 115, 112), ông T, bà H sử dụng 1245m2 đất ở và đất c y l u năm hác liền ề quyền sử dụng đất của ông N bà Th, ông T được cấp quyền sử dụng đất 1245m2 ngày 10/04/2000 (nguồn gốc đất do cha là ông Lê Văn Tư cho ông T năm 1999, hồ s cấp quyền sử dụng đất cho ông T BL84, 86, 22, 23).
Căn cứ bản vẽ ngày 22/6/2016 (BL125) thì thấy: Đất hộ ông N và hộ ông T liền ề ranh, cả hai hộ cùng ê hai xin cấp quyền sử dụng đất vào năm 2000, hi đó các bên cùng tên trong biên bản xác định ranh giới, mốc giới đất, ranh đất liền ề nhau cho nhau (ông T được cấp 1245m2 ngày 10/04/2000 kèm theo s theo s đồ thuật hu đất, ông N được cấp quyền sử dụng đất diện tích 204m2 ngày 10/04/2000 èm theo s theo s đồ thuật hu đất) đúng quy định, đúng bản vẽ hiện trạng đất tranh chấp hiện nay, năm 2013 ông N chuy n nhượng (Hợp đồng chuy n nhượng đất ngày 18/6/2013, BL91, 92) cho ông Trần Văn Nh 63m2 trong diện tích 204m2 do ông N đứng tên, các bên tách bộ chuy n quyền sử dụng đất theo quy định, ông N còn lại 141m2 ngày 02/8/2013 đúng với biên bản đo vẽ ngày 22/6/2016 của c quan chuyên môn. Như vậy theo quy định pháp luật Đất đai, Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông N bà Th diện tích 141m2, ông T bà H diện tích 1.245m2 điều này được chứng minh tại Công văn số 1270/UBND-NC ngày 13/7/2018 (BL54) của UBND huyện C, tỉnh A đ xác định việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01820 ngày 02/8/2013, thuộc thửa đất số 161, tờ bản đồ số 05, diện tích 141m2 cấp cho ông Lê Công N và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03440/cB ngày 10/4/2000, thuộc thửa đất số 13. tờ bản đồ số 05, diện tích 1.245m2 cấp cho ông Lê Văn T là đúng đối tượng sử dụng đất, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật (CV số 1270/UBND-NC ngày 13/7/2018, BL54).
Trong quá trình sử dụng đất, cụ th năm 2009, hộ ông T cất nhà, ông N phát hiện gia đình ông T cất nhà hông đúng vị trí đất ông T được cấp quyền sử dụng đất, có dấu hiệu lấn chiếm đất thuộc quyền sử dụng của ông N nên ông N hiếu nại (UBND x Long Điền B h a giải không thành, Báo A có đăng nội dung tranh chấp do ông N phản ảnh số 5151 - thứ tư 8-10-2017) và hởi iện yêu cầu gia đình ông T trả diện tích 30m2 đất ở (đ n hởi iện ngày 26/02/2015 - BL09), tại phiên t a s thẩm ngày 28/11/2019 ông N tự nguyên rút lại yêu cầu hởi iện đối với diện tích đất 25,2m2 (BL202 đến BL205), ông N bà Th yêu cầu hộ ông T bà H trả 4,8m2 (không nêu rõ là bà H vợ ông T), tại đ n yêu cầu ngày 19/03/2020 (trước hi xét xử phúc thẩm) ông N iến nếu gia đình ông T muốn giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất nêu trên thì phải thỏa thuận bồi thường thỏa đáng cho ông, ông T bà H hông đồng trả đất theo yêu cầu của ông N bà Th, ông, bà cho rằng gia đình sử dụng đất đúng hiện trạng theo quyền sử dụng đất được cấp, theo đó ông T bà H thấy việc cấp quyền sử dụng đất cho ông và cấp quyền sử dụng đất cho ông N bà Th hông đúng quy định, nên ông, bà yêu cầu T a án hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện C cấp cho ông và cấp cho ông N bà Th, tại phiên t a phúc thẩm ông T bà H (do ông T đại diện theo ủy quyền cho bà H) yêu cầu T a phúc thẩm hủy án s thẩm, nhưng ông T, bà H hông có chứng cứ phủ định việc đang lấn chiếm 4,8m2 thuộc quyền sử dụng đất của ông N bà Th, chứng cứ chứng minh việc cấp quyền sử dụng đất cho ông và ông N bà Th là trái pháp luật và chứng cứ chứng minh T a s thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng hi giải quyết vụ án này bởi lẽ, 05 thiếu sót ông nêu đó là: Bản án s thẩm ghi nhầm năm sinh ông (Thức); ghi nhầm năm cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho ông N (Tòa sơ thẩm đã an hành Quyết định số 47/2019/TB-SCBSBA ngày 13/12/2019 sửa chữa, ổ sung ản án sơ thẩm ghi đúng lại năm cấp quyền sử dụng đất cho ông N bà Th là ngày 02/08/2013), tiêu đề Bản án s thẩm hông ghi phần yêu cầu hủy giấy chứng nhận của ông (Thức); hông cho ông tên sang tên tách bộ hi ông N chuy n nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn Nh 63m2 nằm trong quyền sử dụng đất ông N được cấp quyền sử dụng đất 204m2 ngày 14/04/2000 èm theo bản vẽ, hông đưa ông Nh vào tham gia tố tụng, Bản án s thẩm có thiếu sót như ông T trình bày, nhưng thiếu sót này hông nghiêm trọng, hông làm ảnh hưởng đến bản chất vụ án, Hội đồng xét xử chỉ cần điều chỉnh lại cho phù hợp. Theo quy định pháp luật ông T hông thuộc chủ th có quyền được hồ s cho ông N khi ông N chuy n nhượng đất cho ông Trần Văn Nh 63m2 nằm trong quyền sử dụng đất 204m2 của ông N đứng tên, diện tích đất 63m2 ông Nh nhận chuy n nhượng từ ông N hông thuộc đối tượng đất tranh chấp trong vụ án này giữa hộ ông N với hộ ông T ( hông nằm trong bản vẽ ngày 22/6/2016) nên T a s thẩm hông đưa ông Nh tham gia tố tụng trong vụ án này là đúng pháp luật, nên việc ông T đề nghị hủy án s thẩm hông có c sở đ chấp nhận.
Căn cứ ết quả đo vẽ hiện trạng đất tranh chấp hiện do ông N bà Th, ông T bà H đang sử dụng do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới lập ngày 22/6/2016 (ông T, ông N thống nhất ết quả đo vẽ của c quan chuyên môn) có đủ căn cứ xác định hiện trạng đất ông N bà Th sử dụng chỉ có 83,0m2 giảm so với diện tích đất ông N bà Th được cấp quyền sử dụng đất diện tích 141m2 (nguyên nh n giảm là do ông N bà Th chừa lối đi chung, lối đi này là hoảng trống giữa vách nhà ông N với vách nhà ông T, lối đi này ngang hoảng 1,2 mét chạy dài từ lộ 946 h n 100m đi thẳng từ tỉnh lộ 946 ra phía sau hậu nhà ông N, ông T, chiều dài lối đi giữa nhà ông N với ông T hoảng 24 mét nối liền với hu d n cư phía sau hậu, đất lối đi này là đất của ông N, được ông N ông T cùng xác định tại biên bản xem xét thẩm định ngày 26/5/2022 của T a án tỉnh A) nên đất lối đi này vẫn thuộc quyền sử dụng đất ông N bà Th được cấp, nhưng vẫn thiếu 4,8m2 bị ông T bà H x y nhà lấn chiếm, hiện trạng hu đất th hiện ông T bà H đang sử dụng diện tích đất tăng so với quyền sử dụng đất diện tích 1.245m2 được cấp, cụ th đất ông T bà H tăng 4,8m2 trong đó (3,6m2 là một phần nhà chính của ông T bà H; 1,2m2 phần s n nhà ông T bà H), diện tích đất 4,8m2 ông T bà H lấn chiếm cất nhà nằm trong giấy nhận quyền sử dụng đất diện tích 141m2 do UBND huyện C cấp cho ông N bà Th ngày 02/8/2013, nên ông N bà Th yêu cầu gia đình ông T trả lại diện tích 4,8m2 đất nói trên cho ông N, bà Th là có căn cứ.
Theo ết quả định giá ngày 08/06/2015 (giá đất ở nông thôn 300.000đ/m2) và biên bản xem xét thẩm định ngày 08/06/2015 của T a s thẩm, biên bản xem xét thẩm định ngày 30/07/2020 của T a phúc thẩm thì diện tích 3,6m2 là một phần nhà chính của ông T bà H sử dụng ết cấu tổng th liền ề toàn bộ cấu trúc căn nhà (nóng đá, sắt giàn iền, cột x y gạch, vách x y gạch, mái tol, la phong nhựa, nền lót gạch), h n nữa tại biên bản xem xét thẩm định lại lần hai ngày 26/06/2022 của t a án tỉnh A thì thấy: Nhà ở iên cố của ông N bà Th với nhà ở iên cố của ông T bà H có hoảng trống liền ề hai vách nhà của nhau chiều ngang hoảng 1,2 mét, chiều dài hoản h n 20m chạy dài 100m kéo dài từ tỉnh lộ 946 ra phía sau hậu nhà ông N bà Th, ông T bà H nối liền với hu d n cư phía sau hậu, diện tích lấn chiếm 3,6m2 thực tế là vách tường nhà ông T bà H (x y bó nền có cốt thép, sắt giằng hung x y, cột x y gạch, vách x y gạch, mái tol, la phong nhựa, nền lót gạch bông) nếu buộc tháo dỡ trả phần diện tích 3,6m2 cho ông N bà Th g y thiệt hại lớn đến giá trị chung cấu trúc căn nhà ông T bà H, h n nữa phần diện tích này hông ảnh hưởng đến m quan, ảnh hưởng đến nhà, đất ông N bà Th đang sử dụng, đối với diện tích 1,2m2 là mái che ( hông cố định) một phần trước s n nhà ông T nếu tháo dỡ hông g y thiệt hại cho ông T bà H. Do đó, T a án s thẩm xử buộc ông T phải tháo, dỡ di dời các vật công trình iến trúc có trên đất đ trả lại diện tích đất 1,2m2 tại các mốc đi m 16, 17, 20, 21 theo hiện trạng hu đất đo vẽ ngày 22/6/2016 (nhưng Quyết định ản án không tuyên tên chủ thể được nhận tích đất 1,2m2 là thiếu sót), buộc ông T có nghĩa vụ trả số tiền 1.080.000 đồng cho ông N, bà Th phần diện tích lấn chiếm 3,6m2 tại các mốc đi m 16, 17, 34 theo s đồ hiện trạng hu đất đo vẽ ngày 22/6/2016, ông T được quyền sử dụng diện tích đất 3,6m2 theo các mốc đi m 16,17, 34 theo s đồ hiên trạng đất đo vẽ ngày 22/6/2016 (ông N không yêu cầu định giá lại đất tranh chấp theo giá thị trường) và đình chỉ yêu cầu hởi iện của ông N, bà Th đối với diện tích đất tranh chấp 25.2 m2 (do ông N bà Th rút yêu cầu hởi iên) và hông chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T đối với hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (quyền sử dụng đất của ông N và quyền sử dụng đất của ông T) là phù hợp, tại phiên t a phúc thẩm ông N, bà Th (do ông N đại diện) yêu cầu ông T bà H (do Thức đại diện) trả giá trị quyền sử dụng đất 30.000.000 đồng đối với diện tích đất 3,6m2, ông T bà H (do ông T đại diện) hông đồng yêu cầu này của ông N bà Th (ông N đại diện cho bà Th) đ i trả giá trị 30.000.000 đồng đối với 3,6m2, ông N bà Th (ông N đại diện cho bà Th) hông có chứng mới chứng minh về giá trị đất như yêu cầu (do ông N không yêu cầu định giá theo giá thị trường như đ nhận định phần trên), nên hông có cở s chấp nhận yêu cầu của ông N bà Th.
Về nội dung cần giải quyết tranh chấp trong vụ án này, ông N bà Th (ông N đại diện cho bà Th) hởi iện chỉ yêu cầu ông T trả đất, sau đó hai yêu cầu gia đình ông T trả lại cho ông diện tích 4,8m2 (được hi u là yêu cầu ông T và bà H), bà H vợ ông T tham gia tố tụng trong vụ án này, bà H cũng có iến là hông đồng trả đất và giá trị đất theo yêu cầu của ông N bà Th, lẽ ra Tòa s thẩm hướng dẫn ông N bổ sung nội dung yêu cầu, là yêu cầu cả bà H trả đất, thì vụ án giải quyết toàn diện, triệt đ h n, án s thẩm chỉ tuyên nghĩa vụ của cá nhân ông T phải tháo, dỡ, di dời các vật công trình iến trúc có trên đất đ trả lại diện tích đất 1,2m2 (khôn tu ên rõ t nà do ai nhận, là khôn phù hợp pháp luật) cho ông N bà Th nhận đất, nhưng bà H cũng hông đồng trả đất theo nội dung án s thẩm tuyên, nên bà H háng cáo (nộp tạm ứng án phí phúc thẩm độc lập) hông đồng trả đất, trả giá trị đất theo nội dung yêu cầu của ông N bà Th (ông N đại diện cho bà Th), từ đ y cho thấy bà H nhận thức được ông N bà Th đ yêu cầu bà cùng ông T trả đất hay giá trị đất, nên bà H mới phản đối lại yêu cầu của ông N bà Th, đ giải quyết toàn diện, triệt đ vụ án, cần điều chỉnh lại nội dung án s thẩm về quyền và nghĩa vụ bà H đó là buộc bà H, ông T cùng trách nhiệm tháo dỡ, di dời các vật công trình iến trúc có trên đất đ trả lại diện tích đất 1,2m2 tại các mốc đi m 16, 17, 20, 21 theo s đồ hiện trạng hu đất tranh chấp do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh C đo vẽ ngày 22/6/2016 cho ông N bà Th là phù hợp, về quyền d n sự của bà H, thì bà H và ông T được quyền sử dụng diện tích đất 3,6m2 theo các mốc đi m 16, 17, 34 theo s đồ hiên trạng đất đo vẽ ngày 22/6/2016 là phù hợp pháp luật, quyền lợi bà H (án sơ thẩm bà H không được quyền sử dụng diện tích đất 3,6m2) vẫn được đảm bảo và hả thi cho việc thi hành án vì (Quyết định ản án sơ thẩm tuyên ông Lê Văn T phải tháo, dỡ, di dời các vật công trình kiến trúc có trên đất để trả lại diện tích đất 1,2m2 tại các mốc điểm 16, 17, 20, 21 theo sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh đo v ngày 22/6/2016, nhưng trả 1,2m2 này cho ai, thì ản án sơ thẩm không tuyên, ản án gốc do Hội đồng xét xử ký BL211 đến BL215 là thiếu sót), những thiếu sót này hông nghiêm trọng, hông làm ảnh hưởng, thay đổi bản chất nội dung vụ án, hông làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của ông N bà Th, ông T bà H hi sửa án về nội dung này, nên cần tuyên xử điều chỉnh lại nội dung nhận định trên cho phù hợp và hả thi cho việc thi hành án.
Theo đó T a s thẩm thụ l , hi xét xử có nhận định giải quyết 02 quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông N bà Th với ông T bà H trong vụ án này đó là tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định, nhưng tiêu đề Bản án chỉ ghi tranh chấp quyền sử dụng đất, hông ghi yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng, ghi nhầm năm sinh của ông T, ghi nhầm năm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N được cấp là thiếu sót (Tòa sơ thẩm đã an hành Quyết định số 47/2019/TB-SCBSBA ngày 13/12/2019 sửa chữa, ổ sung ản án sơ thẩm ghi đúng lại năm cấp quyền sử dụng đất cho ông N bà Th là ngày 02/08/2013), nhưng thiếu sót này hông vi phạm nghiêm trọng tố tụng, hông làm thay đổi nội dung vụ án, nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho đúng, T a s thẩm cũng cần rút inh nghiệm.
Về án phí s thẩm: Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T bà H, Hội đồng xét xử t a s thẩm hông chấp nhận yêu cầu này của ông T bà H, thì người yêu cầu hông phải chịu án phí d n sự s thẩm, nên việc Án s thẩm buộc ông T chịu 300.000 đồng án phí s thẩm do hông chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà H là hông đúng quy định pháp luật, T a s thẩm cần rút inh nghiệm. Do đó, cần sửa nội dung về án phí s thẩm, ông T, bà H hông phải chịu án phí s thẩm đối với nội dung yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ông N bà Th, ông T bà H háng cáo nhưng hông cung cấp được chứng cứ mới chứng minh nội dung háng cáo của chính mình, nên hông có cở sở xem xét yêu cầu háng cáo của các đư ng sự. Từ những căn cứ pháp luật ph n tích, nhận định trên nên hông chấp nhận háng cáo của ông N bà Th, ông T bà H và iến đề nghị của Luật sư. Dó đó, cần sửa bản án d n sự s thẩm số 273/2019/DS-ST ngày 28/11/2019 và Quyết định sửa chữa bổ sung bản án s thẩm số 47/2019/TB-SCBSBA ngày 13/12/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh A đ hả thi cho việc thi hành án và phù hợp với quy định.
Các phần hác của bản án s thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực từ hi hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Về chi phí tố tụng giai đoạn phúc thẩm: Đ thực hiện xem xét, thẩm định trực tiếp lại hiện trạng đất tranh chấp (trên đất có nhà ông T bà H) theo yêu cầu của ông N bà Th, ông N nộp 1.000.000 đồng chi phí tố tụng, tổng chi cho việc thẩm định lại ngày 26/5/2022 là 900.000 đồng (đ hoàn trả xong cho ông N 100.000 đồng) cho ông N, nhưng do háng cáo của ông N hông được chấp nhận nên ông N phải chịu 900.000 đồng chi phí tố tụng theo quy định (ông N đ nộp xong).
Về án phí phúc thẩm: Ông N bà Th, ông T bà H kháng cáo không được T a phúc thẩm chấp nhận, nhưng do sửa bản án s thẩm, nên ông T bà H hông phải chịu án phí d n sự phúc thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc, riêng ông N bà Th (đối tượng người cao tuổi hông nộp tạm ứng án phí phúc thẩm), thuộc đối tượng hông phải nộp tạm ứng án phí, chịu án phí phúc thẩm theo quy định nên hông đề cập đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn hoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Phúc xử:
- hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Lê Công N, bà Trần Thị Th.
- hông chấp nh n yêu cầu háng cáo của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Kim H.
- Sửa Bản bản án d n sự s thẩm số 273/2019/DS-ST ngày 28/11/2019 và Quyết định sửa chữa bổ sung bản án s thẩm số 47/2019/TB-SCBSBA ngày 13/12/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh A.
Các Điều 166 Bộ luật d n sự năm 2015; Điều 3, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 146, Điều 147, Điều 217, Điều 228, Điều 235, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông Lê Công N, bà Trần Thị Th.
- Buộc ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H phải tháo dỡ, di dời các vật công trình iến trúc có trên đất đ trả lại diện tích đất 1,2m2 tại các mốc đi m 16, 17, 20, 21 theo s đồ hiện trạng hu đất tranh chấp do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới đo vẽ ngày 22/6/2016 cho ông Lê Công N, bà Trần Thị Th.
- Buộc ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 1.080.000 đồng (một triệu hông trăm tám mư i ngàn đồng) cho ông Lê Công N, bà Trần Thị Th đối với diện tích lấn chiếm 3,6m2 tại các mốc đi m 16, 17, 34 theo s đồ hiện trạng hu đất tranh chấp do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới đo vẽ ngày 22/6/2016.
- Ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H được quyền sử dụng diện tích đất 3,6m2 theo các mốc đi m 16, 17, 34 theo s đồ hiện trạng hu đất tranh chấp do Văn ph ng đăng đất đai chi nhánh Chợ Mới đo vẽ ngày 22/6/2016.
- Đình chỉ yêu cầu hởi iện của ông Lê Công N, bà Trần Thị Th đối với diện tích đất tranh 25,2m2 .
- hông chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H.
- Ông Lê Công N, bà Trần Thị Th, ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H phải đến c quan Nhà nước có thẩm quyền ê hai, đăng , điều chỉnh biến động quyền sử dụng đất (theo Quyết định bản án phúc thẩm đ tuyên) theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Về chi phí tố tụng: ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Công N, bà Trần Thị Th số tiền chi phí định giá và xem xét thẩm định tại chỗ 1.300.000 đồng và chi phí đo đạc là 1.255.000 đồng, tổng cộng 2.555.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mư i lăm ngàn đồng), chi phí này ông Lê Công N đ tạm ứng nộp.
từ ngày bên được thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án hông thanh toán số tiền trên cho bên được thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án c n phải trả cho bên được thi hành án số tiền l i theo mức l i suất được quy định tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật d n sự năm 2015 tư ng ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
(S đồ hiện trạng hu đất tranh chấp giữa ông Lê Công N, bà Trần Thị Th và ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H do Văn ph ng Đăng đất đai Chi nhánh C đo vẽ ngày 22/6/2016 là một phần của bản án, hông th tách rời).
- Về án phí d n sự s thẩm: Ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
- Ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H hông phải chịu án phí s thẩm đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Niệu, bà Trần Thị Th và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H.
- Tiền án phí s thẩm ông T bà H phải chịu (như án phúc phẩm đ tuyên) được hấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003313 ngày 02.3.2015 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Chợ Mới, tỉnh A do ông T nộp. Nên ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H hông phải nộp thêm án phí s thẩm.
- Ông Lê Công N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003313 ngày 02.3.2015 của Chi cục thi hành án d n sự Huyện Chợ Mới, tỉnh A.
- Về chi phí tố tụng giai đoạn phúc thẩm: Ông Lê Công N phải chịu 900.000 đồng chi phí tố tụng theo quy định (ông N đ nộp xong).
- Về án phí d n sự phúc thẩm:
Ông Lê Văn T, bà Nguyễn im H hông phải chịu án phí d n sự phúc thẩm, nên được nhận lại 600.000 đông tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do các đư ng sự đ nộp theo các biên lai thu tiền (số 0007643 ngày 13/12/2019; số 0007646 ngày 16/12/2019) của Chi cục Thi hành án d n sự huyện C.
Ông Lê Công N (đối tượng người cao tuổi), bà Trần Thị Th, ông Lê Văn T hông phải chịu án phí d n sự phúc thẩm.
- Các phần c n lại của Bản án s thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực thi hành.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND C p cao tại TP. HCM; - VKSND tỉnh A; - TAND hu ện C; - VKSND hu ện C - Chi c c THADS hu ện C; - Các ươn sự; - Phòng KTNV-THA; - Lưu: Tòa, Văn phòn , hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |