- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn N - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Đặng Văn N và Trần Đức A phạm tội “Cướp giật tài sản”,
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DD THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2021/HS-ST Ngày: 22-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DD, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến T
Các Hội thẩm nhân dân:
1-Bà Đặng Thị A
2-Bà Phạm Thị T
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu H Thư ký Tòa án nhân dân quận DD, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận DD, thành phố HNtham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Q , Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận DD, thành phố HNxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2021/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
1-Đặng Văn N, sinh năm 1997; nơi thường trú: thôn An Khải, xã Bắc Sơn, huyện Ân Thi, tỉnh HY; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đặng Văn L và bà Hoàng Thị L (chết); tiền án, tiền sự: Ngày 03/02/2017, Công an quận Hoàn Kiếm xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; Ngày 14/12/2017, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2018); Ngày 25/4/2019, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/01/2020); Bị bắt (quả tang), tạm giữ tạm giam từ ngày 17/10/2020, SG 5226V1/20 tại Trại tạm giam số 1, Công an TP. HN“có mặt”;
2-Trần Đức A, sinh năm 2000; nơi thường trú: Thôn Tân Phú, xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh HB; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Đức T (chết) và bà Nguyễn Thị P ; Tiền án, tiền sự: Ngày 25/4/2019, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2019); Bị bắt (quả tang), tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2020; SG 5225V1/21 tại Trại tạm giam số 1, Công an TP. HN“có mặt”.
Người bị hại: chị Trần Thị H, sinh năm 1982; nơi thường trú: số 06, ngõ 211 phố Xã Đàn, phường N Đồng, quận DD, thành phố HN(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/10/2020, Đặng Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 30X8 – 4506 chở Trần Đức A lang thang các tuyến phố với mục đích cướp giật tài sản. Khi đi đến khu vực trước số 275, phố Chợ Khâm Thiên, Phương Liên, DD, Hà Nội, Đức A phát hiện chị Trần Thị H (Sinh năm: 1982, trú tại: số 06, ngõ 211 phố Xã Đàn, N Đồng, DD, HN) ngồi sau xe mô tô của A Nguyễn Chí T (Sinh năm: 1981, trú tại: số 23 Hàng Bài, phường Hàng Bài, HK, HN) điều khiển đang dừng mua hàng tại đây và ở bên túi quần bên trái của chị H để 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu trắng. Đức A đã bảo N điều khiển xe mô tô áp sát bên trái chị H và Đức A dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại Iphone 8 Plus rồi N điều khiển xe bỏ chạy theo hướng phố Chợ Khâm Thiên – phố Khâm Thiên. Khi phát hiện bị chiếm đoạt tài sản, A Thành điều khiển xe mô tô chở chị H đuổi theo N và Đức A. Khi đến trước khu vực số nhà 239 phố Chợ Khâm Thiên thì N, Đức A bị các A Dương Văn H và Văn Thế T – là cán bộ công an phường Phương Liên, DD, HN bắt giữ.
Cơ quan công an đã thu giữ của Trần Đức A: 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus, màu trắng, bản 64Gb, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 30X8 – 4506, SK: 501736, SM: 0001823, màu bạc;
Bản kết luận định giá tài sản số 488/KL-HĐĐGTS ngày 24/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản quận DD, kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, 64Gb, đã qua sử dụng trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng chẵn).
Tại Cơ quan điều tra Đặng Văn N và Trần Đức A đã khai nhận hành vi chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone của chị Trần Thị H như trên. Về nguồn gốc chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 30X8 – 4506, SK: 501736, SM: 0001823: Qua điều tra xác minh chủ đăng ký chiếc xe máy trên là A Nguyễn Văn Cương, sinh năm 1991, nơi ĐKNKTT: thôn Kim Tiên, xã Xuân Nộn, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. A Cương khai đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không quen biết với giá 3.000.000 đồng vào năm 2014. Lời khai của Đức A đã mua xe máy này vào năm 2018 tại khu vực phố Chùa Hà, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe máy trên sang Chi cục thi hành án dân sự quận DD để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 31/01/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại cho bị hại là chị Trần Thị H chiếc điện thoại Iphone 8 Plus, bản 64Gb, màu trắng.
Cáo trạng số 76/CT-VKSĐĐ ngày 03/3/2021 của Viện kiểm sát quận DD truy tố Đặng Văn N về tội Cướp giật tài sản theo điểm d,i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; truy tố Trần Đức A về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, Đại điện Viện kiểm sát quận DD giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội dA trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d,i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, mức phạt bị cáo Đặng Văn N từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, mức phạt bị cáo Trần Đức A từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo; tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 xe moto Wave BKS 30X8-4506 là vật chứng vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận DD, Viện kiểm sát nhân dân quận DD, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng; không yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, thành viên Hội đồng xét xử.
Đặng Văn N và Trần Đức A khai nhận hành vi của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai bị hại, biên bản quả tang, vật chứng. Do vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/10/2020, tại khu vực trước cửa số nhà 275 phố Chợ Khâm Thiên, phường Phương Liên, quận DD, Đặng Văn N điều khiển xe máy, chở sau là Trần Đức A áp sát, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, dùng vũ lực chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus, trị giá 7.000.000 đồng để ở túi quần bên trái của chị Trần Thị H. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, Viện kiểm sát nhân dân quận DD truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm
quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, đặc biệt hành vi phạm tội của bị cáo tại nơi đông người, sử dụng phương tiện xe máy là nguồn nguy hiểm thực hiện chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo là người có sức khỏe, nhận thức đầy đủ hành vi của mình; Đặng Văn N và Trần Đức A đều có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, lần phạm tội này được coi là tái phạm. Đối với Đặng Văn N có tiền án vào năm 2017 và năm 2019 chưa được xóa án tích, nay là tái phạm nguy hiểm nên có mức hình phạt cao hơn Trần Đức A. Qua đó thể hiện bị cáo chưa chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chấp hành đúng pháp luật, còn cố ý phạm tội. Căn cứ mức độ, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên cần có mức hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng phòng, chống tội phạm.
Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn là tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: chị Trần Thị H, sinh năm 1982; nơi thường trú: số 06, ngõ 211 phố Xã Đàn, phường N Đồng, quận DD, thành phố HNđã nhận lại tài sản 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus và không yêu cầu xem xét thiệt hại gì thêm.
Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thông báo liên tục tìm chủ sở hữu xe máy Wave BKS 30X8-4506 theo quy định pháp luật, nhưng không ai nhận lại tài sản, nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô Wave BKS 30X8-4506 là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-3-2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận DD).
Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình
sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố Đặng Văn N và Trần Đức A phạm tội “Cướp giật tài sản”,
-Áp dụng điểm d,i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự;
Xử phạt Đặng Văn N 5 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm
giữ, tạm giam 17-10-2020.
-Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Trần Đức A 4 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm
giữ, tạm giam 17-10-2020.
-Áp dụng Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333
Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô Wave BKS 30X8-4506, SK: 501736, SM: 0001823 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-3-2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận DD).
Đặng Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trần Đức A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Nơi nhận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận DD;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hà Nội;
- TAND thành phố Hà Nội;
- Công an quận DD;
- Chi cục THA quận DD;
- Sở Tư pháp TP Hà Nội;
- Bị cáo; Người bị hại;
Nguyễn Tiến T
- Lưu HS - VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DD
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DD
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Thành;
Hội thẩm nhân dân:
1-Ông Lê bá Lung;
2-Bà Đặng Thị Ánh.
Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 441/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả trA tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1-Về tội dA: Tuyên bố Lê Xuân Hải phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Kết quả biểu quyết: 3/3 2- Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm d,i khoản 2 Điều 171 (đối với Hải); điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với Đức A); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 3/3
3- Về hình phạt
Xử phạt Đặng Văn N 5 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm
giữ, tạm giam 17-10-2020.
Xử phạt Trần Đức A 4 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm
giữ, tạm giam 17-10-2020.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để bảo đảm thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 4- Về vật chứng: tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô Wave BKS 30X8-4506, SK: 501736, SM: 0001823 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-3-2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận DD). 5- Về án phí,quyền kháng cáo: Lê Xuân Hải phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 45 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận DD;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hà Nội;
- TAND thành phố Hà Nội;
- Công an quận DD;
- Chi cục THA quận DD;
- Sở Tư pháp TP Hà Nội;
- Bị cáo; Người bị hại;
Nguyễn Tiến Thành
- Lưu HS - VP.
| Nơi nhận : - VKSND quận DD; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận DD; - Chi cục THA quận DD; - TT lý lịch - Sở Tư pháp TP.Hà Nội; - Bị cáo; Người bị hại; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Thành |