vanban.org

Bản án 126/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:

Buộc ông Nguyễn Minh K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 21.705.964.463 (Hai mươi mốt tỷ bảy trăm lẻ năm triệu chín trăm sáu mươi bốn ngàn bốn trăm sáu mươi ba) đồng (tiền gốc là 16.929.160.000 đồng, tiền lãi tương ứng nợ gốc trong hạn: 4.335.035.355 đồng, lãi tương ứng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2021/DS-ST
Ngày: 19/5/2021
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Quý

2. Ông Lê Văn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2019/TLST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2021/QĐST-DS ngày 23/4/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ; Địa chỉ: đường V, Phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh B, sinh năm 1972 (Theo Văn bản ủy quyền số 228/QĐ-BIDV.TB1 ngày 05/5/2020) (Có mặt) .

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh K – sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp T, xã Đông ThạnhA, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Minh K vay số tiền 17 tỷ đồng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (dưới đây gọi là Ngân hàng) theo hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ký ngày 24/8/2018. Mục đích sử dụng vốn vay để thanh toán chi phí nhận chuyển nhượng tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thời hạn vay: 240 tháng, lãi suất vay 10,9%/năm đến hết ngày 31/12/2018, sau đó lãi suất cho vay được điều chỉnh bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân kỳ hạn 12 tháng, trả lãi cuối kì do ngân hàng niêm yết (+) 3,8%.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông Nguyễn Minh K đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/8852462/HĐBĐ ngày 24/8/2018 thế chấp tài sản là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ 156/11 Lê Đình Cẩn, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 70139193488, hồ sơ gốc số 706/2003 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp ngày 11/3/2003, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh K và đổi số nhà ngày 08/01/2018 của Ủy ban nhân dân quận Bình Tân).

Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 17 tỷ đồng cho ông Nguyễn Minh K, tuy nhiên ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù Ngân hàng đã có thông báo nợ quá hạn lần 1 ngày 01/11/2018, lần 2 ngày 08/11/2018.

Do ông Nguyễn Minh K vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm các điều khoản hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Minh K trả Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 20/02/2019 là 17.702.527.585 đồng, trong đó: tiền nợ gốc: 16.929.160.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 770.170.566 đồng, lãi quá hạn: 3.197.019 đồng.

Trường hợp ông Nguyễn Minh K không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ 156/11 Lê Đình Cẩn, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

Trường hợp giá trị tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ để thu hồi nợ thì yêu cầu ông K có trách nhiệm tiếp tục trả số nợ còn lại.

Bị đơn - Ông Nguyễn Minh K vắng mặt không lý do, không có ý kiến hay yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện nguyên đơn ông Huỳnh Thanh B trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Minh K trả Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 19/5/2021 là 21.705.964.463 đồng, trong đó bao gồm tiền gốc là 16.929.160.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 4.335.035.355 đồng, lãi quá hạn: 441.769.108 đồng. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp, ông Nguyễn Minh K không trả hoặc trả không đầy đủ nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ 156/11 Lê Đình Cẩn, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/885246/HĐBĐ ngày 24/8/2018 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Minh K để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Sau khi ông K trả hết nợ thì ngân hàng trả lại cho ông K bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 70139193488, hồ sơ gốc số 706/2003 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp ngày 11/3/2003, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh K và đổi số nhà ngày 08/01/2018 của Ủy ban nhân dân quận Bình Tân; Thông báo về việc nộp lệ phí trước bạ.

Ông K tiếp tục trả nợ cho ngân hàng nếu tài sản thế chấp được phát mãi không đủ trả nợ ngân hàng.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng tự nguyện chịu và không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Minh K vắng mặt không lý do

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng

Ngân hàng TMCP Đ và ông Nguyễn Minh K có quan hệ hợp đồng vay tài sản, ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp với Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ có chi nhánh tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có quan hệ hợp đồng với ông K, đồng thời tại điểm b mục 10 Hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ngày 24/8/2018 các bên có thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân quận Tân Bình giải quyết khi có tranh chấp. Do đó, Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông K lên tòa trình bày ý kiến, hòa giải, tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông K vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có ý kiến hay yêu cầu gì, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Đại diện hợp pháp của Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Minh K trả ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 19/5/2021 là 21.705.964.463 đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 16.929.160.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 4.335.035.355 đồng, lãi quá hạn: 441.769.108 đồng.

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ngày 24/8/2018, đính kèm điều khoản và điều kiện vay; Bảng kê rút vốn ngày 27/8/2018 của bên vay là Nguyễn Minh K; Ủy nhiệm chi số tiền 17.000.000.000 đồng của chủ tài khoản Nguyễn Minh K ; Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/885246/HĐBĐ ký ngày 24/8/2018 đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/8/2018 tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh quận Bình Tân và các chứng cứ của đương sự thì có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Minh K có vay ngân hàng số tiền 17.000.000.000 đồng, vay có thời hạn 240 tháng, có thỏa thuận lãi suất, có thế chấp để đảm bảo khoản vay. Xét hợp đồng tín dụng được ký kết trên cơ sở tự nguyện, việc thỏa thuận lãi vay, lãi trong hạn, quá hạn giữa các bên là phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; căn cứ bảng tính nợ gốc, lãi vay và phí phạt chậm trả của Ngân hàng thì ông Nguyễn Minh K vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của hợp đồng trên, cụ thể ông K chỉ trả 01 kỳ nợ gốc 70.840.000 đồng vào ngày 08/10/2018, trả 162.031.491 đồng tiền lãi vào ngày 08/10/2018 và 03/12/2019. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K phải trả toàn bộ số tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc buộc ông K phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 19/5/2021 là 21.705.964.463 đồng (tiền nợ gốc là 16.929.160.000 đồng, tiền lãi tương ứng nợ gốc trong hạn: 4.335.035.355 đồng, lãi tương ứng nợ gốc quá hạn: 441.769.108 đồng).

Tiền lãi được tiếp tục phát sinh từ ngày 20/5/2021 theo hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ngày 24/8/2018 cho đến khi ông Nguyễn Minh K thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng TMCP Đ.

Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Minh K phải trả toàn bộ số nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu, gây ảnh hưởng quyền lợi của ngân hàng nên yêu cầu trả ngay khi án có hiệu lực là có cơ sở và được chấp nhận.

Xét hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/885246/HĐBĐ ký ngày 24/8/2018 đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/8/2018 tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh quận Bình Tân thì Tài sản thế chấp thực hiện theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của tài sản thế chấp là “Bên thế chấp đồng ý dùng toàn bộ tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của Bên thế chấp đối với Ngân hàng phát sinh từ tất cả các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng và Bên thế chấp, bao gồm nhưng không giới hạn nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí ... và tất cả các nghĩa vụ liên quan phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ngày 24/8/2018 ...”, do đó, trường hợp ông K không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại điạ chỉ 156/11 Lê Đình Cẩn, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Minh K tiếp tục thanh toán nghĩa vụ còn thiếu trong trường hợp sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ phát sinh khi phát mãi tài sản theo quy định mà số tiền còn lại từ tài sản thế chấp vẫn không thanh toán hết nghĩa vụ cho Ngân hàng TMCP Đ. Xét thấy, tại khoản 3 Điều 11 của hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/885246/HĐBĐ thì các bên đã thỏa thuận: khi xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán vẫn chưa thanh toán hết nghĩa vụ được bảo đảm thì bên thế chấp tiếp tục thanh toán phần còn thiếu, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của ngân hàng.

Ngay khi ông Nguyễn Minh K trả hết nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ngày 24/8/2018 thì Ngân hàng phải trả lại cho ông K bản chính các giấy tờ của tài sản thế chấp bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 70139193488, hồ sơ gốc số 706/2003 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp ngày 11/3/2003, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh K ngày 08/01/2018 và Thông báo về việc nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 05/01/2018 của Chi cục thuế quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị này có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do Ngân hàng tự nguyện chịu và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Minh K phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho Ngân hàng nên ông K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 129.705.964 đồng. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273, Điều 278; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các điều 317, 319, 320, 322, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:

Buộc ông Nguyễn Minh K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 21.705.964.463 (Hai mươi mốt tỷ bảy trăm lẻ năm triệu chín trăm sáu mươi bốn ngàn bốn trăm sáu mươi ba) đồng (tiền gốc là 16.929.160.000 đồng, tiền lãi tương ứng nợ gốc trong hạn: 4.335.035.355 đồng, lãi tương ứng nợ gốc quá hạn: 441.769.108 đồng được tính đến ngày 19/5/2021) theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ngày 24/8/2018.

Thời hạn thi hành: Ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tiền lãi được tiếp tục phát sinh từ ngày 20/5/2021 theo hợp đồng tín dụng số 01/2018/8852462/HĐTD ngày 24/8/2018 cho đến khi ông Nguyễn Minh K thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng TMCP Đ.

Ngay khi ông Nguyễn Minh K trả hết nợ thì Ngân hàng TMCP Đ phải trả cho ông K bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 70139193488, hồ sơ gốc số 706/2003 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp ngày 11/3/2003, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh K ngày 08/01/2018 và Thông báo về việc nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 05/01/2018 của Chi cục thuế quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp, ông K không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại điạ chỉ 156/11 Lê Đình Cẩn, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

Trong trường hợp sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ phát sinh theo quy định mà số tiền còn lại từ tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ thì ông Nguyễn Minh K tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.

2/ Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do Ngân hàng TMCP Đ tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3/ Về án phí: Ông Nguyễn Minh K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 129.705.964 (Một trăm hai chín triệu bảy trăm lẻ năm ngàn chín trăm sáu mươi bốn) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 62.851.250 ( Sáu mươi hai triệu tám trăm năm mươi mốt ngàn hai trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0038152 ngày 01/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Minh K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

5/ Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TPHCM;

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND QTB;

- CCTHADS QTB;

- Các đương sự;

- Lưu VP, Hồ sơ (…).

Bành Kim Phượng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quý

Lê Văn Ngọc

Bành Kim Phượng

Cỡ chữ