vanban.org

Bản án 126/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Bùi Phước L là vợ chồng.

Về con chung: không có Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Bùi Phước L là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 126/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 7 - 2020
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tấn Khoa

2. Ông Lê Đức Thụy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hòa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Ngày 29 tháng 07 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 05 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 320/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 07 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1978. Nơi cư trú: ấp An Tịnh, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Ông Bùi Phước L, sinh năm 1966. Địa chỉ: tổ 05 ấp An Bình, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trình bày:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Bùi Phước L tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2006, không đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, nên giữa bà Đ và ông L không còn sống chung từ tháng 05/2020 cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị Ngọc Đ yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Phước L.

- Về con chung: không có

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

Bị đơn là ông Bùi Phước L trình bày: Về quan hệ hôn nhân thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Ngọc Đ về điều kiện, thời gian kết hôn, cũng như thời gian sống ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn. Ông L cũng đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ.

- Về con chung: không có

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Bùi Phước L vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Phước L, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Bùi Phước L với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp An Bình, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Bùi Phước L đi đến hôn nhân vào năm 2006, trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm nên cuộc sống chung không có hạnh phúc và vợ chồng không còn sống chung từ tháng 05/2020 cho đến nay, do hôn nhân của ông bà không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được xem là hôn nhân không hợp pháp. Do đó căn cứ vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà Đ và ông L là vợ chồng là phù hợp.

Về quan hệ con chung: không có

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc Đ được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Bùi Phước L là vợ chồng.

2. Về con chung: không có

3. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0008328 ngày 11/05/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ