vanban.org

Bản án 126/2020/DSST-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 28/08/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đông Á Bank (Dong A Bank).

Buộc bà Nguyễn Thị Mộng T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á (Dong A Bank) số tiền vốn gốc là 15.326.153 đồng và nợ lãi trong hạn 1.153.847 đồng, lãi quá hạn 4.004.266 đồng tạm tính đến ngày 28/8/202. Tổng cộng vốn và lãi là 20.484.266 đồng (hai mươi triệu bốn tám mươi bốn ngàn hai trăm sáu m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng đông nam Á khởi kiện Mộng Thu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đông Á Bank (Dong A Bank).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
__________
Bản án số: 126/2020/DSST-ST
Ngày: 28/8/2020.
V/v tranh chấp “Hợp đồng dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tôn Phƣớc Tận;

2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, Thư ký Toà án nhân dân huyện C M, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện h

i t nh n iang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C M, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2020, về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 338/2020/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 328/2020/QĐST- DS ngày 10 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (Dong A Bank) địa chỉ: số 130 Phan Đăng Lưu, phường 3, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí M.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành L, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP Đông Á – Phòng giao dịch huyện C M; là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 122/QĐ – DAB – HĐQT ngày 27/4/2016 của chủ tịch Hội đồng quản trị Đong A Bank; Quyết định ủy quyển thường xuyên số 1269/QĐ – DAB –PC ngày 26/7/2016 của Tổng giám đốc Dong A Bank và Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng ngày 25/5/2020 của Giám đốc Đong A Bank – Phòng giao dịch C M (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp M T, xã M A, huyện C M, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp M T, xã M A, huyện C M, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản không hòa giải được, tại phiên Tòa đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (Dong A Bank) do ông Nguyễn Thành L trình bày: Vào ngày 21/12/2017, Ngân hàng TMCP Đông Á (Dong A Bank) – Phòng giao dịch C M và bà Nguyễn Thị Mộng T có ký kết hợp đồng tín dụng số 00900195/0139402001T17041. Theo đó Ngân hàng đã cho bà T vay số tiển 20.000.000 đồng, mục đích vay để tiêu dùng; thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 21/12/2017 đến hết ngày 21/12/2018 với hình thức tín chấp; lãi suất vay trong hạn 10% /năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; trả nợ gốc và định kỳ hàng tháng, phương thức thanh toán trả góp hàng tháng, tháng đầu góp 1.840.000 đồng, tháng cuối cùng góp 1.760.000 đồnng. Từ khi vay đến nay bà T có trả được số tiền 5.520.000 đồng, trong đó vốn gốc là 4.673.847 đồng, lãi 846.153 đồng thì ngưng cho đến nay. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á yêu cầu bà T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc là 15.326.153 đồng và nợ lãi trong hạn 1.153.847 đồng, lãi quá hạn 4.004.266 đồng tạm tính đến ngày 28/8/2020. Tổng cộng vốn và lãi là 20.484.266 đồng.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng M cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là hợp đồng tín dụng vay trả góp số 00900195/0139402001 ngày 21/12/2017 (bản pho to); đề nghị vay vốn ngày 21/12/2017, danh sách khách hàng vay tiền mặt tại Ngân hàng Đông Á ngày 21/12/2017 và các tài liệu khác có liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C M phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến giải quyết vụ án:

Ngày 21/12/2017, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á và bà Nguyễn Thị Mộng T, ký hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00900195/0139402001T17041 với số tiền 20.000.000 đồng (đã giải ngân ngày 21/12/2017), thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 21/12/2017 đến ngày 21/12/2018), lãi suất trong hạn là 10%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Hình thức vay tín chấp.

Trong quá trình thực hiện, bà T trả được 5.520.000 đồng, trong đó vốn gốc là 4.673.847 đồng, lãi trong hạn 846.153 đồng thì ngưng đến nay. Nay, Ngân hàng yêu cầu bà T trả tổng cộng 20.4848.266 đồng, trong đó vốn gốc là 15.326.153 đồng, lãi trong hạn 1.153.847 đồng, lãi quá hạn 4.004.266 đồng tạm tính đến ngày 28/8/2020 và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc từ ngày 29/8/2020 đến khi bà T thanh toán hết nợ.

Phía bà Nguyễn Thị Mộng T, ông Nguyễn Quang M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi nhận ý kiến.

Xét thấy, hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00900195/0139402001T17041 ngày 21/12/2017, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á với bà Nguyễn Thị Mộng T được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa Tận. Do bà T vi phạm nghĩa vụ, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả tổng cộng 20.4848.266 đồng, trong đó vốn gốc là 15.326.153 đồng, lãi trong hạn 1.153.847 đồng, lãi quá hạn 4.004.266 đồng tạm tính đến ngày 28/8/2020 và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc từ ngày 29/8/2020 đến khi bà T thanh toán hết nợ là có căn cứ.

Đối với ông Nguyễn Quang M (chồng của bà T) có cam kết bảo lãnh số tiền vay cho bà T, nhưng bà T vay với tư cách cá nhân với hình thức tín chấp, Ủy ban nhân dân xã M A chỉ xác nhận việc bà T công tác tại đơn vị trong thời gian ký kết hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng không yêu cầu Ủy ban nhân dân xã M A và ông M nên không đề cập đến.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á.

- Buộc bà Nguyễn Thị Mộng T trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á, tổng cộng 20.484.266 đồng, trong đó vốn gốc là 15.326.153 đồng, lãi trong hạn 1.153.847 đồng, lãi quá hạn 4.004.266 đồng tạm tính đến ngày 28/8/2020 và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc từ ngày 29/8/2020 đến khi bà T thanh toán hết nợ.

Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bà T, ông M đến tham gia phiên họp và hòa giải theo đúng trình tự của pháp luật nhưng các ông bà không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Mộng T có nghĩa vụ trả số tiền vay 20.000.000. Đây là tranh chấp dân sự hợp đồng tín dụng Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp M T, xã M A, huyện C M, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện C M thụ lý giải quyết là đúng theo quy định Điều 26; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân huyện C M đã thực hiện các thủ tục tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn bà T, ông M là người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Việc xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản:

Hợp đồng tín dụng số 00900195/0139402001T17041 ngày 21/12/2017 giữa Ngân hàng TMCP Đông Á (Dong A Bank) – Phòng giao dịch C M và bà Nguyễn Thị Mộng T được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.

Về thực hiện hợp đồng trên cơ sở hợp đồng tín dụng số 00900195/0139402001T17041 ngày 21/12/2017, bà T được Ngân hàng giải ngân số tiền 20.000.000 đồng thông qua danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ngày 21/12/2017. Sau khi vay bà T có trả được tiền 5.520.000 đồng, trong đó vốn gốc là 4.673.847 đồng, lãi 846.153 đồng thì ngưng cho đến nay thì không đóng lãi và cũng không trả vốn, tính đến ngày 28/8/2020 nợ vốn 15.326.153 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 28/8/2020 là 4.004.266 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 20.484.266 đồng.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Đông Á (Dong A Bank) khởi kiện yêu cầu bà T trả là phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.

Về biện pháp bảo đảm, theo văn bản đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 04/12/2017 do bà T lập, đối với ông M (chồng bà T) có cam kết bảo lãnh số tiền vay cho bà T, nhưng bà T vay với tư cách cá nhân với hình thức tín chấp, Ủy ban nhân dân xã M A chỉ xác nhận việc bà T công tác tại đơn vị trong thời gian ký hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng không yêu cầu Ủy ban nhân dân xã M A và ông M.

Từ Những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đông Á (Dong A Bank); buộc bà T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng vốn gốc là 15.326.153 đồng và nợ lãi trong hạn 1.153.847 đồng, lãi quá hạn 4.004.266 đồng tạm tính đến ngày 28/8/2020. Tổng cộng vốn và lãi là 20.484.266 đồng, tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa Tận kể từ ngày 29/8/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà Nguyễn Thị Mộng T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ

Các Điều 335, 342, 463, 466, 468, 470 - Bộ luật dân sự năm 2015.

Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đông Á Bank (Dong A Bank).

Buộc bà Nguyễn Thị Mộng T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á (Dong A Bank) số tiền vốn gốc là 15.326.153 đồng và nợ lãi trong hạn 1.153.847 đồng, lãi quá hạn 4.004.266 đồng tạm tính đến ngày 28/8/202. Tổng cộng vốn và lãi là 20.484.266 đồng (hai mươi triệu bốn tám mươi bốn ngàn hai trăm sáu mươi sáu đồng),

Kể từ ngày 29/8/2020 bà Nguyễn Thị Mộng T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa Tận trong hợp đồng số 00900195/0139402001T17041 ngày 21/12/2017 cho đến khi bà T thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mộng T phải chịu 1.024.213 đồng (một triệu không trăm hai mươi bốn ngàn hai trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (Dong A Bank) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP Đông Á (Dong A Bank) số tiền 496.000 đồng (bốn trăm chín mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai T số 0008483 ngày 05.6.2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C M.

Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ