vanban.org

Bản án 126/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng ủy quyền

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 21/09/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng ủy quyền — án dân sự — "KHOA DŨNG"
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH L
Bản án số: 126/2020/DS-PT
Ngày : 21 - 9 - 2020
V/v tranh chấp về hợp đồng ủy quyền;
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất; kiện đòi lại tài sản và yêu
cầu hủy quyết định cá biệt của cơ
quan, tổ chức.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NN VVIIỆỆTT NNAAMM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Châu Thạch

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Th

Tòa án, Tòa án nhân dân t nh Lâm Đ ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh L xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 112/2020/TLPT-DS ngày 18 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp về hợp đồng ủy quyền; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; kiện đòi lại tài sản và yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L bị háng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 270/2020/QĐ - PT ngày 20/8/2020; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 309/2020/QĐ – PT ngày 16/9/2020, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Minh K, sinh năm: 1954; bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958; địa ch : Thôn H, xã N, huyện L, t nh L. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông K, bà T:

Ông Trần Văn D, sinh năm: 1981; địa ch : 41A/26 Đ ờng T, Ph ờng 13, quận B, Thành phố H. Có mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 15/9/2020.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1983; địa ch : Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, t nh L. Có mặt.

- Người có quyền lợi, N vụ liên quan:

1/. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1982; địa ch : Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, t nh L. Vắng mặt.

2/. Anh Lê Huy S, sinh năm: 1991; địa ch : Thôn 1 Đ, xã Đ, huyện L, t nh L. Có mặt.

3/. Văn phòng công chứng V(nay là Văn phòng công chứng Ngô Văn T); địa ch trụ sở: 110 Hùng V ơng, hu phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, L.

Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng V(nay là Văn phòng công chứng Ngô Văn T):

Ông Ngô Văn T; chức vụ: Tr ởng Văn phòng công chứng V(nay là Văn phòng công chứng Ngô Văn T); địa ch : 110 Hùng V ơng, hu phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, L. Vắng mặt.

4/. Văn phòng đăng đất đai t nh L; địa ch trụ sở: Tầng 2, Trung tâm Hành chính, số 36 Trần Phú, Ph ờng 4, thành phố Đ.

Người đại diện theo pháp luật Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L:

Ông Nguyễn Phú T; chức vụ: Giám đốc Văn phòng đăng đất đai t nh L; địa ch : 36 Trần Phú, Ph ờng 4, thành phố Đ. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L:

Ông Trần Văn N; chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng

đất đai huyện L, t nh L. Vắng mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 01/10/2018, ngày 18/3/2019, ngày 20/6/2019.

5/. Ủy ban nhân dân huyện L, t nh L; địa ch : Thị trấn Đ, huyện L, t nh L.

Người đại diện theo pháp luật Ủy ban nhân dân huyện L:

Ông Hoàng Sỹ B; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, t nh L.

Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền Ủy ban nhân dân huyện L:

Ông A; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, t nh L. Vắng mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 02/3/2018, ngày 23/4/2020.

- Người làm chứng: Ông Tạ Văn C, sinh năm: 1979; địa ch : Thôn Thực Nghiệm, xã M, huyện L, t nh L. Có mặt.

- Người kháng cáo:

+ Nguyên đơn ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T;

+ Bị đơn anh Nguyễn Văn D.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông K, bà T trình bày:

Ngày 18/4/2013, ông bà có vay của anh Nguyễn Văn D số tiền 40.000.000đ, trong hợp đ ng vay thì hông nêu rõ lãi suất, nh ng các bên thỏa thuận lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/ngày, thời gian vay là 08 tháng. Sau đó, bà T có vay thêm nhiều lần nữa nh ng bà hông nhớ cụ thể. Đến ngày 02/6/2013, bà có trả cho anh D số tiền là 92.800.000đ để hấu trừ vào toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi suất mà bà đã vay của anh D từ ngày 18/4/2013 đến thời điểm trả nợ (ngày 02/6/2013). Khi nhận số tiền 92.800.000đ thì anh D có nhận.

Sau đó bà vay của anh D thêm một số lần cụ thể nh sau: Ngày 31/8/2013, bà vay 13.000.000đ; ngày 11/9/2013 vay tiếp 2.000.000đ; ngày 14/9/2013 vay tiếp 5.000.000đ; ngày 30/9/2013 vay tiếp 12.000.000đ; ngày 18/10/2013 vay tiếp 5.000.000đ. Ngoài ra, bà hông còn vay của anh D hoản vay nào hác. Các hoản vay trên lãi suất các bên thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/ngày. Tổng số tiền bà vay của ông D là 37.000.000đ.

Ngày 16/01/2014, hai bên tính toán chốt nợ. Khi đó có cả anh C. Anh D tính cả gốc và lãi là 64.000.000đ, bà trả đ ợc 10.000.000đ. Việc tính lãi có anh C là ng ời viết giấy. Số tiền còn lại là 54.000.000đ thì anh D yêu cầu bà viết lại giấy vay, thời hạn trả nợ là 01 tháng. Đến hạn trả nợ bà hông trả đ ợc nên bà có nói giao đất cho anh D bán nh ng anh D hông bán đ ợc, anh D nói với bà là sang tên đất cho vợ anh D là chị T để chị T đi vay tiền Ngân hàng về bù vào hoản tiền bà nợ vì lúc đó bà đang nợ xấu nên Ngân hàng hông cho vay, hi nào bà có tiền trả thì anh D sẽ sang tên quyền sử dụng đất lại cho bà. Bà đ ng để cho anh D sang tên cho vợ anh D là chị T nh ng diện tích đất bà vẫn quản l , sử dụng.

Ngày 23/7/2014, bà trả cho anh D số tiền 70.000.000đ, sau đó bà yêu cầu anh D sang tên lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà nh ng anh D hông đ ng .

Đối với nội dung bản ghi âm ngày 05/4/2014 do anh D xuất trình cho Tòa án thì bà thừa nhận có nói những nội dung mà anh D đã ghi âm. Bà hông thắc mắc gì về nội dung ghi âm.

Nay ông bà hởi iện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Hủy hợp đ ng ủy quyền đã giữa ông, bà với anh Nguyễn Văn D ghi ngày 18/4/2013 về việc ủy quyền cho anh D sử dụng, chuyển nh ợng, thế chấp vay vốn đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 673754 do UBND huyện L cấp cho ông K, bà T vào tháng 2/2012 với diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L;

+ Hủy hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ghi ngày 27/3/2014 đối với diện tích đất nêu trên đã giữa anh Nguyễn Văn D với chị Nguyễn Thị T;

+ Yêu cầu anh Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị T, anh Lê Huy S trả lại cho ông, bà diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L.

+ Yêu cầu anh D trả số tiền đầu t chăm sóc cà phê năm 2016 hoảng 5.000.000đ và b i th ờng số cây cà phê bị chặt phá trên diện tích đất trên với hoảng 100 cây, trị giá hoảng 10.000.000đ.

+ Hủy phần điều ch nh của Văn phòng đăng đất đai huyện L về việc sang tên quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị T và hủy phần điều ch nh của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L ngày 16/11/2016 về việc sang tên quyền sử dụng đất cho anh Lê Huy S tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 673754 do UBND huyện L cấp tháng 2 năm 2012.

+ Yêu cầu điều ch nh lại số tiền lãi suất của số tiền nợ gốc 37.000.000đ mà ông, bà đã trả cho anh D theo mức lãi suất quy định của pháp luật.

Ngày 12/4/2019, bà T có đơn xin rút một phần yêu cầu hởi iện, cụ thể bà T xin rút yêu cầu hởi iện về việc yêu cầu anh D trả số tiền đầu t , chăm sóc cà phê niên vụ năm 2016 là 5.000.000đ; rút yêu cầu hởi iện về việc yêu cầu anh D trả số tiền thiệt hại do đã chặt phá hoảng 100 cây cà phê trên diện tích đất trên với trị giá 10.000.000đ; rút yêu cầu hởi iện về việc yêu cầu tính lại số tiền lãi suất của số nợ gốc là 37.000.000đ mà ông, bà đã trả cho anh D.

Đ ng thời, bà T yêu cầu trong tr ờng hợp Tòa án hông chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của vợ ch ng bà thì bà yêu cầu Tòa án buộc anh D phải trả cho vợ ch ng bà số tiền 70.000.000đ mà anh D đã nhận của bà vào ngày 23/7/2014 và tiền lãi ể từ ngày 23/7/2014 cho đến hi Tòa án giải quyết xong vụ án với mức lãi suất là 2%/tháng.

Bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:

Ngày 18/4/2013, ông K, bà T có vay của anh số tiền 40.000.000đ, hi vay có lập hợp đ ng vay tiền, đ ợc công chứng tại Văn phòng công chứng Văn Long, thời hạn trả là ngày 18/01/2014. Nh ng ch a đến hạn trả thì ngày 16/01/2014, ông K, bà T lại ra nhà anh hỏi vay thêm của anh số tiền 54.000.000đ, anh tiếp tục cho vay và hi vay có viết giấy vay tiền và hẹn tối đa là 3 tháng sẽ thanh toán cho anh, lãi suất vay theo lãi suất Ngân hàng. Tổng cộng hai lần vay là 94.000.000đ. Sau hoảng thời gian vay tiền của lần 1 đã quá hạn, anh có vào nhà ông K, bà T để đòi nợ và ông K, bà T có hất nợ thêm một tháng và anh cũng đ ng . Sau hoảng thời gian 01 tháng anh vào nhà ông T, bà K rất nhiều lần để đòi nợ, ông K, bà T vẫn cứ hất nợ nh ng anh hông đ ng và đề nghị ông K, bà T phải thu xếp thanh toán nợ cho anh. Đến ngày trả nợ của giấy vay tiền lần 2, anh có vào nhà ông K, bà T thì ông K, bà T xác định hông còn hả năng trả nợ cho anh. Ông K, bà T đã thỏa thuận với anh và đ ng trả nợ cho anh bằng diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L mà tr ớc đây ông K, bà T đã ủy quyền cho anh đ ợc toàn quyền quyết định. Do ông K, bà T đã đ ng trả nợ cho anh bằng lô đất trên và ông K, bà T hông có thêm yêu cầu nào hác nên ngày 27/3/2014 anh đã chuyển nh ợng diện tích đất trên cho vợ anh là chị Nguyễn Thị T, sau một thời gian chị T chuyển nh ợng lại cho anh Lê Huy S. Việc chuyển nh ợng giữa anh sang vợ anh và giữa vợ anh sang anh S thì các bên đã hoàn tất thủ tục chuyển nh ợng theo quy định của pháp luật. Hiện nay anh Lê Huy S đang trực tiếp quản l , sử dụng diện tích đất. Diện tích đất sau hi anh chuyển nh ợng cho chị T, chị T chuyển nh ợng cho anh S, các bên sử dụng nh thế nào thì anh không biết. Anh hông chặt phá số cà phê trên đất mà bà T đã sang tên cho anh.

Bà T cho rằng anh có nhận của bà T số tiền 92.800.000đ vào ngày 02/6/2013 là hông đúng. Anh hông nhận số tiền 92.800.000đ của ông K, bà T vì trên giấy tờ này hông thể hiện rõ nội dung và hông liên quan đến việc cấn trừ nợ, việc cấn trừ nợ xảy ra sau thời điểm nhận tiền rất lâu, anh không rõ bà T vì sao có giấy ghi số tiền nêu trên, nội dung giấy hông liên quan đến nội dung vụ việc.

Bà T hai vay của anh từ ngày 14/8/2013 đến ngày 18/10/2013 với tổng số tiền là 37.000.000đ là hông đúng.

Ngày 23/7/2014, anh có nhận của bà T số tiền 70.000.000đ nh bà T trình bày. Tuy nhiên, hoản nợ này là do ông K, bà T trả cho ông Tạ Văn C, trả vào số tiền 70.000.000đ mà ông K, bà T vay của ông C, anh là ng ời nhận hộ anh C chứ hông phải là số tiền mà ông K, bà T trả vào hoản vay mà ông K, bà T đã vay của anh. Khi đ a tiền cho anh thì toàn bộ giấy tờ ông K, bà T đã lấy lại, nên anh hông có chứng cứ để xuất trình cho Tòa án.

Anh hông đ ng đối với toàn bộ yêu cầu hởi iện của ông K, bà T.

Người có quyền lợi, N vụ liên quan chị Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 27/3/2014, ch ng chị là anh Nguyễn Văn D có chuyển nh ợng cho chị diện tích đất 500m2, thuộc thửa 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, trên đất có cây cà phê và cây chè. Việc chuyển nh ợng trên là hợp pháp. Hợp đ ng chuyển nh ợng đ ợc Văn phòng Công chứng Vcông chứng, hai bên đã hoàn tất thủ tục chuyển nh ợng theo quy định của pháp luật nên giao dịch này là hợp pháp, thỏa mãn các điều iện về giao dịch trong pháp luật dân sự và pháp luật đất đai. Ngày 24/10/2016, chị chuyển nh ợng lại cho anh Lê Huy S toàn bộ diện tích đất nói trên, thời điểm chuyển nh ợng thì đất hông có tranh chấp. Việc chuyển nh ợng là hợp pháp. Các bên đã hoàn tất thủ tục chuyển nh ợng theo quy định của pháp luật. Chị hông đ ng đối với yêu cầu hởi iện của ông K, bà T. Chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết công nhận tính hợp pháp về hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ngày 27/3/2014 giữa anh D và chị. Đ ng thời, chị đề nghị Tòa án xem xét và bảo vệ quyền lợi hợp pháp về hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ngày 24/10/2016 giữa chị và anh Lê Huy S.

Người có quyền lợi, N vụ liên quan anh Lê Huy S trình bày:

Ngày 26/10/2016, anh có nhận chuyển nh ợng diện tích đất 500m2, thuộc thửa 404, tờ bản đ số 17, thôn H, xã N, huyện L của chị Nguyễn Thị T, việc chuyển nh ợng có lập hợp đ ng chuyển nh ợng đ ợc Văn phòng Công chứng Vcông chứng và đã sang tên quyền sử dụng đất cho anh theo quy định của pháp luật. Sau hi nhận chuyển nh ợng anh đã canh tác và sử dụng đến nay hông có tranh chấp. Nay bà T hởi iện yêu cầu trả đất thì anh hông đ ng .

Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng Công chứng V(nay là Văn phòng công chứng Ngô Văn T) là ông Ngô Văn T trình bày:

Ngày 18/4/2013, ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T có đến Văn phòng Công chứng V(nay là Văn phòng Công chứng Ngô Văn T) yêu cầu công chứng hợp đ ng ủy quyền. Sau hi iểm tra các giấy tờ có liên quan đến công chứng ông thấy đầy đủ và hợp lệ nên ông đã giao cho chuyên viên soạn thảo hợp đ ng cụ thể: Ông K, bà T ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D đ ợc toàn quyền sử dụng giấy chứng nhận số BI 673754 do UBND huyện L cấp ngày 22/02/2012 để chuyển nh ợng, thế chấp vay vốn. Sau hi soạn thảo hợp đ ng xong ông đã cho ông K, bà T, anh D đọc lại hợp đ ng, ông K, bà T, anh D đã đ ng

vào hợp đ ng và phát hành hợp đ ng theo đúng quy trình của Luật công chứng.

Đến ngày 27/3/2014, anh Nguyễn Văn D đã mang hợp đ ng ủy quyền trên cùng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K, bà T đến Văn phòng công chứng yêu cầu Văn phòng làm hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982, ở xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, t nh L. Quá trình công chứng hợp đ ng chuyển nh ợng, ông đã làm đúng quy trình của Luật công chứng. Ông cam đoan bản t ờng trình của ông là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm tr ớc pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện L là ông A trình bày:

Năm 2012, ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCNQSDĐ) đối với diện tích 500m2, thuộc thửa 404, tờ bản đ số 17, xã N, ông K, bà T sử dụng ổn định đến năm 2014, sau đó lập hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho chị Nguyễn Thị T.

Về trình tự, thủ tục hi lập hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất từ ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T sang cho chị Nguyễn Thị T, thành phần h sơ nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất bao g m:

- Hợp đ ng ủy quyền ngày 18/4/2013 của ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T, ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, do Văn phòng Công chứng Vcông chứng số 2565 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD;

- Hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 27/3/2014 do Văn phòng Công chứng Vcông chứng số 4982 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD;

- Tờ hai lệ phí tr ớc bạ nhà đất ngày 07/4/2014 do ng ời nhận chuyển nh ợng là chị Nguyễn Thị T kê khai;

- Tờ hai thuế thu nhập cá nhân ngày 07/4/2014 do ng ời đ ợc ủy quyền giao dịch chuyển nh ợng là anh Nguyễn Văn D kê khai;

- Đơn xin xác nhận diện tích đất đang sử dụng ngày 04/4/2014 của Ủy ban nhân dân xã Hiệp Thạnh xác nhận tình trạng, nhu cầu sử dụng đất đối với chị Nguyễn Thị T, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hiệp Thạnh xác nhận;

- Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định N vụ tài chính số 1275/01 ngày 12/5/2014 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L lập;

- Thành phần h sơ và trình tự thủ tục chuyển nh ợng từ ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T sang cho chị Nguyễn Thị T đ ợc thực hiện đúng theo quy định tại Điều 23 Thông t số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

Trình tự thủ tục hi lập hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất từ chị Nguyễn Thị T sang anh Lê Huy S, thành phần h sơ g m:

- Hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 24/10/2016 do Văn phòng Công chứng Vcông chứng số 1784 quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD;

- Tờ hai lệ phí tr ớc bạ nhà đất ngày 24/10/2016 do ng ời nhận chuyển nh ợng là anh Lê Huy S kê khai;

- Tờ hai thuế thu nhập cá nhân ngày 07/11/2016 do ng ời chuyển nh ợng là chị Nguyễn Thị T kê khai;

- Phiếu thẩm định h sơ của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L ngày 25/11/2016;

- Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định N vụ tài chính đất đai số 3543/PCTTĐC ngày 14/11/2016 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai L lập;

- Giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà n ớc ngày 30/11/2016 đối với thuế tr ớc bạ nhà đất;

- Giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà n ớc ngày 30/11/2016 đối với thuế thu nhập cá nhân;

- Thành phần h sơ và trình tự thủ tục chuyển nh ợng từ chị Nguyễn Thị T sang cho anh Lê Huy S đ ợc thực hiện đúng theo quy định tại Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Ủy ban nhân dân huyện L đề nghị Tòa án nhân dân huyện L iểm tra, xác minh việc ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T với anh Nguyễn Văn D lập hợp đ ng ủy quyền ngày 18/4/2013, ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, do Phòng công chứng Vcông chứng số 2565 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD có đúng quy định hay hông? Sau đó, có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân các cấp có hiệu lực pháp luật, Ủy ban nhân dân huyện L sẽ thực hiện theo bản án hoặc quyết định của Tòa án.

Đối với ng ời đại diện theo ủy quyền của Văn phòng đăng đất đai t nh L, Tòa án đã gửi Thông báo thụ l vụ án và nhiều lần triệu tập hợp lệ đến trụ sở Tòa án để làm việc. Tuy nhiên ng ời đại diện theo ủy quyền của Văn phòng đăng đất đai t nh L hông đến Tòa án làm việc cũng hông có văn bản nêu iến nh ng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nh ng hông đ ợc do đ ơng sự vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L đã xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T về việc hởi iện yêu cầu: Hủy hợp đ ng ủy quyền đã giữa vợ ch ng ông, bà với anh Nguyễn Văn D ghi ngày 18/4/2013 về việc ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D sử dụng, chuyển nh ợng, thế chấp vay vốn đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 673754 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho ông K, bà T vào tháng 2 năm 2012 với diện tích đất 500m2, thuộc thửa 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L; Hủy hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ghi ngày 27/3/2014 đối với diện tích đất nêu trên đã giữa anh Nguyễn Văn D với chị Nguyễn Thị T; Yêu cầu anh Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị T, anh Lê Huy S trả lại cho vợ ch ng ông, bà diện tích đất 500m2, thuộc thửa 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L; Hủy phần điều ch nh của Văn phòng đăng đất đai huyện L về việc sang tên quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị T và Hủy phần điều ch nh của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L ngày 16/11/2016 về việc sang tên quyền sử dụng đất cho anh Lê Huy S tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 673754 do UBND huyện L cấp tháng 2 năm 2012;

2. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông K, bà T về việc đòi lại tài sản. Buộc anh Nguyễn Văn D phải trả cho ông K, bà T số tiền là 70.000.000đ.

3. Không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc yêu cầu anh D trả lãi đối với số tiền 70.000.000đ.

4. Đình ch giải quyết đối với các yêu cầu hởi iện của ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T về việc hởi iện yêu cầu anh Nguyễn Văn D trả lại cho ông bà tiền đầu t chăm sóc cà phê năm 2016 hoảng 5.000.000đ và b i th ờng số cây cà phê bị chặt hoảng 100 cây trị giá hoảng 10.000.000đ; yêu cầu điều ch nh lại số tiền lãi suất của nợ số gốc là 37.000.000đ.

Ngoài ra quyết định của bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, về quyền háng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đ ơng sự.

Ngày 14/7/2020, nguyên đơn ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L.

Ngày 21/7/2020 và ngày 22/7/2020, bị đơn anh Nguyễn Văn D kháng cáo đối với một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L.

Những vấn đề cụ thể trong đơn háng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao g m:

Nguyên đơn ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định số tiền 92.800.000 đ ng mà anh Nguyễn Văn D nhận ngày 02/6/2013 là số tiền ông K, bà T trả vào hoản vay cộng chung trong hợp đ ng vay tiền tháng 01/2013; hủy hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa ông K, bà T (do anh D đại diện theo ủy quyền) và bà Nguyễn Thị T đ ợc xác lập vào ngày 27/3/2014; hủy phần cập nhật đăng sang tên bà Nguyễn Thị T của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 673754; hủy hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Huy S do Văn phòng công chứng Vcông chứng vào ngày 24/10/2016; hủy phần cập nhật sang tên ông Lê Huy S của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L ngày 16/11/2016 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 673754; buộc ông Lê Huy S phải trả lại cho ông K, bà T diện tích đất 500m2 và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 404 tờ bản đ số 17 tọa lạc tại xã N, huyện L, t nh L.

Bị đơn anh Nguyễn Văn D yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo h ớng bác toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông K, bà T; ng ời đại diện theo ủy quyền của ông K, bà T là ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo và đề nghị chấp nhận háng cáo. Về phía ng ời có quyền lợi, N vụ liên quan anh S không háng cáo và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh L tham gia phiên tòa phát biểu iến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đ ng xét xử, việc chấp hành pháp luật của ng ời tham gia tố tụng, cụ thể Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đ ng xét xử và các đ ơng sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ hoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hông chấp nhận háng cáo của nguyên đơn ông K, bà T; hông chấp nhận háng cáo của bị đơn anh D, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện L.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Văn D vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với l do bị bệnh hiện đang điều trị tại K nội tổng hợp của Trung tâm y tế huyện L nên sức hỏe hông đảm bảo để tham gia phiên tòa theo giấy báo của Tòa án. Kèm theo đơn xin hoãn phiên tòa là đơn xin xác nhận điều trị của anh D với nội dung: Anh Nguyễn Văn D nhập viện vào ngày 18/9/2020 và hiện đang điều trị tại K Nội tổng hợp – Truyền nhiễm của Trung tâm y tế huyện L, đ ợc chẩn đoán: Bệnh trào ng ợc dạ dày – thực quản, rối loạn tiền đình, thoái hóa cột sống cổ, hội chứng cổ vai gáy, có xác nhận của lãnh đạo Trung tâm y tế huyện L vào ngày 18/9/2020.

Theo quy định của pháp luật thì: Sự iện bất hả háng là tr ờng hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa. Còn trở ngại hách quan là tr ờng hợp đ ơng sự bị tai nạn, ốm nặng đến mức mất hả năng nhận thức…

Tuy nhiên, qua xem xét tài liệu, chứng cứ èm theo đơn xin hoãn phiên tòa thì anh D hông xuất trình đ ợc h sơ bệnh án thể hiện anh D bị tai nạn, ốm nặng đến mức mất hả năng nhận thức nên việc anh D vắng mặt hông thuộc tr ờng hợp vì sự iện bất hả háng hoặc trở ngại hách quan. Do đó, đơn xin hoãn phiên tòa của anh D là hông có căn cứ để chấp nhận. Bên cạnh đó, trong quá trình Hội đ ng xét xử phúc thẩm vào phòng nghị án để nghị án thì anh D có mặt tại phiên tòa phúc thẩm và anh D có mặt hi tuyên án.

Đối với ng ời có quyền lợi, N vụ liên quan chị Nguyễn Thị T (là vợ của anh D) đã đ ợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nh ng vắng mặt hông có l do.

Vì vậy, Hội đ ng xét xử căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Xét háng cáo của nguyên đơn ông K, bà T và háng cáo của bị đơn anh D thì thấy rằng:

Đối với yêu cầu háng cáo của anh D liên quan đến số tiền 70.000.000 đ ng thì thấy rằng: Theo giấy nhận tiền ghi ngày 23/7/2014 (bút lục 03) thể hiện ngày 23/7/2014, anh D có nhận của bà T số tiền là 70.000.000 đ ng, có viết giấy biên nhận tiền với bà T, có chữ xác nhận của anh D. Tuy nhiên, anh D cho rằng đây là số tiền bà T trả cho anh C, còn anh D ch là ng ời nhận thay cho anh C nh ng thực tế giấy biên nhận tiền do anh D viết cho bà T hông có nội dung nào thể hiện anh D nhận tiền do bà T trả cho anh C. Còn anh C xác định anh C cho bà T vay tiền có sự bảo lãnh của anh D và anh C giao tiền trực tiếp cho bà T, bà T có viết giấy vay tiền cho anh C có anh D bảo lãnh nh ng giấy vay tiền anh C đã trả lại cho bà T. Cả anh D và anh C đều hông xuất trình đ ợc tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, trong hi đó, bà T lại không thừa nhận và cho rằng đây là hoản tiền bà giao cho anh D để chuộc lại diện tích đất đã giao cho anh D nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền 70.000.000 đ ng bà T đ a cho anh D là hoản tiền nhằm mục đích chuộc lại đất và buộc anh D phải trả lại cho ông K, bà T số tiền 70.000.000 đ ng là ch a có căn cứ vững chắc, cần phải xác minh, thu thập chứng cứ về việc ông K, bà T có vay tiền của anh C hay hông, số tiền vay cụ thể là bao nhiêu, đã trả cho anh C ch a, trả vào thời gian nào, từ đó mới đánh giá chứng cứ một cách toàn diện để xác định số tiền 70.000.000 đ ng là hoản bà T, ông K vay của anh C hay là hoản ông K, bà T trả cho ông D để chuộc lại đất. Bởi lẽ, nguyên đơn ông K, bà T không thừa nhận việc vay tiền của anh C, cả anh C và anh D cũng hông xuất trình đ ợc tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc bà T có vay tiền của anh C. Nh vậy, nếu tr ờng hợp số tiền này là số tiền ông K, bà T đ a cho anh D để chuộc lại đất thì cần phải xác minh làm rõ quá trình vay m ợn tiền giữa ông K, bà T và anh D và quá trình ông K, bà T trả tiền cho anh D để chuộc đất.

Theo hợp đ ng vay tiền ngày 18/4/2013 (bút lục số 20) thì ông K, bà T có vay của anh D 40.000.000 đ ng; theo giấy vay tiền ngày 16/01/2014 (bút lục số 21) thì bà T có vay của anh D 54.000.000 đ ng. Đối với hai hoản vay này anh D xác định do ông K, bà T hông có hả năng trả nợ cho anh nên ông K, bà T đ ng trả nợ cho anh bằng diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L.

Theo giấy nhận tiền ngày 02/6/2013 (bút lục số 24) thể hiện nội dung: Anh D đã nhận đủ số tiền gốc và lãi là 92.800.000 đ ng (chín m ơi hai triệu tám trăm nghìn đ ng), có chữ viết và chữ xác nhận của anh Nguyễn Văn D.

Theo Kết luận giám định số 439/GĐ-PC09 ngày 19/9/2018 của Phòng ỹ thuật hình sự Công an t nh L (bút lục số 142) thể hiện nội dung: Chữ , chữ viết ghi họ tên Nguyễn Văn D và chữ viết “đã nhận đủ số tiền gốc và lãi = 92.800.000 đ ng (chín m ơi hai triệu tám trăm nghìn đ ng) là chữ và chữ viết của anh Nguyễn Văn D.

Nh vậy, đối với số tiền 92.800.000 đ ng mà anh D nhận của bà T vào ngày 02/6/2013 là có thật nh ng Tòa án cấp sơ thẩm ch a xác minh làm rõ là bà T trả số tiền trên cho anh D là trả vào hoản vay nào, giữa ông K, bà T và anh D có tất cả bao nhiêu hoản vay, mỗi hoản vay có giá trị là bao nhiêu, diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L đ ợc cấn trừ cho hoản vay nào, các số tiền 70.000.000 đ ng và 92.800.000 đ ng thì bà T trả cho anh D nhằm mục đích gì, mục đích chuộc lại diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L hay trả nợ cho các hoản vay nào.

Trong tr ờng hợp có căn cứ để xác định số tiền 70.000.000 đ ng và 92.800.000 đ ng là hoản tiền ông K, bà T trả cho anh D nhằm mục đích chuộc lại diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L thì có căn cứ xác định hợp đ ng ủy quyền giữa ông K, bà T và anh D liên quan đến diện tích đất 500m2, thuộc thửa đất số 404, tờ bản đ số 17, tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, t nh L do Văn phòng công chứng Vthực hiện việc công chứng vào ngày 18/4/2013 theo số công chứng 2565 quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD là giao dịch dân sự giả tạo để đảm bảo cho giao dịch vay tiền ngày 18/4/2013.

Theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh N vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”.

Ngoài ra, ông K, bà T yêu cầu hủy hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ghi ngày 27/3/2014 đối với diện tích đất nêu trên đ ợc

ết giữa anh Nguyễn Văn D với chị Nguyễn Thị T; hủy phần điều ch nh của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L về việc sang tên quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị T và hủy phần điều ch nh của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L ngày 16/11/2016 về việc sang tên quyền sử dụng đất cho anh Lê Huy S tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 673754 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp tháng 2 năm 2012 nh ng do Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông K, bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm ch a giải quyết về hậu quả của hợp đ ng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất bị vô hiệu theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh D, chị T, anh S.

Với những phân tích trên, Tòa án cấp phúc thẩm hông thể hắc phục đ ợc những thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm.

Do đó, cần hủy bản án dân sự sơ thẩm, chuyển toàn bộ h sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung là có căn cứ. Do hủy án vì ch a thu thập xác minh đầy đủ tài liệu, chứng cứ nên hông xem xét háng cáo của nguyên đơn ông K, bà T và háng cáo của bị đơn anh D.

Về án phí phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp. Ngoài ra, ông Bùi Minh K, sinh năm: 1954; bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1958, hiện nay cả ông K và bà T đã trên 60 tuổi. Theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cũng nh Điều 2 của Luật ng ời cao tuổi năm 2009 thì ông K, bà T là ng ời cao tuổi thuộc tr ờng hợp đ ợc miễn toàn bộ án phí. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án cần miễn toàn bộ án phí cho ông K, bà T.

Về án phí sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm sẽ đ ợc xem xét hi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng hác: Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà đ ơng sự đã tạm nộp sẽ đ ợc xem xét hi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ hoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện L về việc “Tranh chấp về hợp đồng ủy quyền; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; kiện đòi lại tài sản và yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức” giữa nguyên đơn ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T; bị đơn anh Nguyễn Văn D.

Giao h sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện L giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ đ ợc xem xét hi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Hoàn trả cho ông Bùi Minh K, bà Nguyễn Thị T 300.000 đ ng tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông K, bà T đã nộp theo biên lai thu số 0007589 ngày 23/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L.

Hoàn trả cho anh Nguyễn Văn D 300.000 đ ng tạm ứng án phí phúc thẩm mà anh D đã nộp theo biên lai thu số 0007599 ngày 27/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L.

4. Về chi phí tố tụng hác: Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà đ ơng sự đã tạm nộp sẽ đ ợc xem xét hi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ