- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tham ô tài sản - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Trung Đ phạm tội “Tham ô tài sản”,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 353 Bộ luật Hình sự
| TAND TP. THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126 /2019/HSST Ngày 11/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Phạm Đức Long
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Kao Hoàng,Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2019 tại Hội trường, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2019/TLST-HS, ngày 04 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2019/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:
Đào Trung Đ, sinh ngày 20/8/1992.
Trú tại: Tổ T, phường TĐ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa lớp 09/12; nghề nghiệp: Lái xe. Con ông Đào Văn D, sinh năm 1963 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1963; có vợ là Lương Thi ̣ N,sinh năm 1991;có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại không bi ̣ giamgiữ(Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Công ty Trách nhiê ̣m hữu ha ̣n Thương ma ̣i HTP. Đi ̣a chỉ: số nhà 280, đườ ng T, tổ L, phườ ng ĐQ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
Bà Hà Thị N, sinh năm 1968, (có đơn xin xử vắng mặt).
Trú tại: tổ L, phườ ng ĐQ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng :
1. ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1961 (vắng mặt).
Trú tại: tổ E, phườ ng QT, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên
2. Chị Nguyễn Thi ̣ H, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Trú tại: tổ A, phườ ng TL, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên
3. Chị Nguyễn Thi ̣ P, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Trú tại: tổ D, phườ ng CH, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên
4. Anh Phạm Duy H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Trú tại: xóm Đ, xã TĐ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên
5.chị Nguyễn Thi ̣ D (sinh năm 1989 (vắng mặt).
Trú tại: tổ C, phườ ng QV, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên
6. Tống Thi ̣ Thu H (sinh năm 1983 (vắng mặt).
Trú tại: tổ Z, phườ ng QT, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.
7. Chị Dương Thi ̣ A, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Trú tại: tổ V, phườ ng TT, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Trách nhiê ̣m hữu ha ̣n Thương ma ̣i
HTP (viết tắt là Công ty TNHH TM HTP) có địa chỉ tại số nhà 280, đườ ng T, tổ L, phườ ng ĐQ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên do bà Hà Thi ̣ N làm Giám đốc, có Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiê ̣p công ty trách nhiê ̣m hữu ha ̣n mô ̣t thành viên số 46009267XX, kinh doanh trong linh vự̃
c : phân phối các mă ̣t hàng bia và nướ c giải khát cho các cửa hàng , đa ̣i lý trên đi ̣a bàn trong và ngoài tinh Thả
́i Nguyên. Từ năm 2013, Đào Trung Đ bắt đầu làm viê ̣c ta ̣i Công ty TNHH TM HTP, sau mô ̣t thờ i gian thi Đ xin nghi viê ̣̉
c. Đến ngày 09/8/2018, Đ ký hợp đồng lao động
̀ làm việc cho Công ty TNHH TM HTP, vớ i công viê ̣c là lái xe giao , nhâ ̣n hàng đến các địa điểm trong thành phố Thái Nguyên, các huyện lân cận và nhận tiền hàng về giao lại cho Công ty . Trong hợp đồng cũng quy đi ̣nh, Đ phải chịu trách nhiê ̣m phương tiê ̣n hàng hóa trên xe, mất mát hư hỏng lái xe phải hoàn toàn chi ̣u trách nhiệm (do lỗi chủ quan của lái xe), lái xe phải chịu trách nhiệm bồi thường hoàn toàn khi gây ra tai na ̣n giao thông (do lỗi chủ quan của lái xe).
Ngày 10/10/2018, Đ được Công ty giao nhiê ̣m vu ̣ lái xe ô tô tải mang biển kiểm soát 20C-149.XX, cùng người bố c hàng là ông Nguyễn Minh S
vâ ̣n chuyển hàng hóa gồm bia và nướ c giải khát đến giao cho các cử a hàng , đa ̣i lý trong khu vực thành phố Thái Nguyên theo đơn hàng đa đă ̣̃ t trướ c và thu tiền hàng nộp lại cho Công ty. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/10/2018, sau khi nhâ ̣n đơn hàng từ k ế toán của công ty là chị Nguyễn Thị H, Đ đến khu vực kho hàng của Công ty yêu cầu xuất hàng và được thủ kho của công ty là chi ̣ Nguyễn Thi ̣ P xuất Phiếu xuất chuyển kho số CK 00632, gồm 150 két bia Hà Nội, loại bia chai 450 ml; 20 thùng bia Hà Nội , loại bia lon 330ml; 05 két bia Hà Nội loại chai 330ml; 05 két bia Tiger Crystal bạc , loại chai 330ml. Quá trình xu ất kho, Đ có ký nhận để hoàn thiện thủ tục lấy đủ số lượng hàng hóa nêu trên . Đ và ông S cùng bốc xếp số lượng hàng nêu trên lên xe ô tô tải ma ng biển kiểm soát 20C-149.XX của công ty, rồi Đ lái xe cùng ông S đi giao số hàng trên cho các cử a hàng và đại lý trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, cụ thể:
- Giao cho đa ̣i lý Hoàng P (Hoàng C) ở xóm Đ, xã TĐ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên do anh Pha ̣m Duy H làm chủ, vớ i số lượng : 120 két bia Hà Nô ̣i, loại chai 450 ml, giá 154.000 đồng/1 két, thu về 18.480.000 đồng.
- Giao cho quán Bar “ T club” ở đườ ng S, thành phố TH do chi ̣ Nguyễn Thị D làm chủ, vớ i số lượng : 10 két bia Beck’s Ice 330ml, giá 288.000 đồng/1 két, thu về 2.880.000 đồng.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, chị H đưa thêm đơn hàng cho Đào Trung Đ, sau đó Đ được chị P xuất thêm 02 phiếu xuất kho và Đ có ký nhận , gồm: Phiếu xuất kho bán hàng số BH 00738, gồm 6 két bia Budweiser 330ml và 02 thùng cam ép Twister; Phiếu xuất kho bán hàng số BH00739, gồm: 11 két bia Beck’s Ice 12P chai 330ml 11*24 (mua 10 két được tặng thêm 01 két). Sau đó, Đ tiếp tu ̣c lái xe ô tô tải mang biển kiểm soát 20C-149.XX, chở ông S và số hàng hóa trên đến giao cho các cửa hàng trên địa bàn thành phố Thái Nguyên , vớ i số lượng cụ thể như sau:
- Giao cho đa ̣i lý Hương K ở số 126, đườ ng V, thành phố TH do chi ̣ Tống Thị Thu H làm chủ, vớ i số lượng : 09 két bia Hà Nội chai 450 ml, giá 160.000 đồng/1 két; 03 thùng bia lon Hà Nội , giá 222.000 đồng/ 1 thùng; 02 thùng cam ép Twister giá 175.00 đồng/ 1 thùng; thu về 2.456.000 đồng;
- Giao cho quán Karaoke cao tốc 66 ở tổ H, phườ ng TT, thành phố TH do chị Dương Thi ̣ A làm chủ , vớ i số lượng : 06 két bia Budweiser , giá 408.000 đồng/1 két, chưa thanh toán 2.448.000 đồng.
Đến khoảng 19 giờ ngày 10/10/2018, sau khi đa hoã
̀n tất viê ̣c giao h àng và nhận tiền hàng , Đ lái xe cùng ông Sơn đi về công ty trả xe . Khi về đến kho hàng củ a Công ty, Đ mang tiền hàng đa thu đượ̃
c ra kiểm đếm được số tiền 23.816.000 đồng. Lúc này, Đ đi ra khu vực nhà vê ̣ sinh của công ty, nhân cơ hô ̣i mọi ngườ i không để ý thi Đ đa lẫ ́y toàn bô ̣ số tiền hàng thu được và bỏ đ i. Sau
̀ khi chiếm đoa ̣t được số tiền trên, Đ đa dũ ̀ng mô ̣t phần để trả nợ, số tiền còn la ̣i Đ dùng để chơi điện tử và tiêu sài. Do không thấy Đ mang tiền hàng về nô ̣p cho công ty nên bà N và chị H đa go ̣̃ i điê ̣n nh iều lần cho Đ nhưng Đ không nghe máy mà chuyển về chế độ im lặng . Quá trình xác minh tại các cửa hàng , đa ̣i lý theo danh sách đơn hàng , bà N được các chủ cử a hàng đa ̣i lý thông tin : Ngày 10/10/2018, Đào Trung Đ có đến giao hàng tại 04 đa ̣i lý, cử a hàng và thu được tổng số tiền hàng là 23.816.000 đồng. Ngày 13/10/2018, Đ đến khu vực thuộc phườ ng ĐQ, thành phố TH thuê phòng tro ̣ và nhờ mô ̣t ngườ i xe ôm gần Công ty TNHH TM HTP đưa số tiề n 1.500.000 đồng cho bà N . Đến ngà y 15/10/2018, không thấy Đ nô ̣p tiền hàng về cho công ty nên bà Hà Thi ̣ N đa trĩ nh báo Công
̀ an thành phố Thái Nguyên để giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị T là mẹ đẻ của Đào Trung Đ đa tự̃ nguyê ̣n giao nô ̣p cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên số tiền 23.816.000 đồng để khắc phu ̣c hâ ̣u quả.
Vật chứng của vụ án:
- Số tiền 23.816.000 đồng do Đào Trung Đ tự nguyê ̣n nô ̣p khắc phu ̣c hâ ̣u quả. Hiê ̣n đa đượ̃
c trả lại cho bà Hà Thi ̣ N - Giám đốc Công ty TNHH TM HTP quản lý.
Phần dân sự: bà Hà Thị N không có yêu cầu khác.
Tại bản cáo trạng số 16/KSĐT- KT ngày 04//01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Đào Trung Đ về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo khai có ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH TM HTP, nhiệm vụ của bị cáo là lái xe, nhận hàng, đi giao hàng cho các đại lý trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo và nhận tiền về nộp lại cho công ty. Theo hợp đồng lao động thì bị cáo có tránh nhiệm lái xe an toàn, bảo quản hàng tiền, nếu để xảy ra mất mát, hư hỏng, vi phạm giao thông do lỗi chủ quan thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Ngày 10/10/2018, bị cáo nhận nhiệm vụ lái xe chở hàng đi giao cho các đại lý và được các đại lý trả tiền hàng với tổng số tiền là 23.816.000 đồng. Do bị cáo nợ nần nên đã đem số tiền trên đi trả nợ và ăn tiêu hết. Sau này bị cáo có nhờ người đem 1.500.000đ trả cho bà N là chủ doanh nghiệp. Số tiền còn lại bị cáo đã nhờ mẹ bồi thường cho bị hại.
Kết thúc phần xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Đào Trung Đ phạm tội “Tham ô tài sản”.Áp dụng khoản 1Điều 353 BLHS 2015; Điểm b, s khoản 1Điều 501; Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt Đào Trung Đ từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung và buộc phải nộp án phí.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, chỉ xin HĐXX xét xem cho được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành cá Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của ngườ i bị hại, người làm chứng và phù hợp với những chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:
Đào Trung Đ là nhân viên lái xe của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Thương Ma ̣i HTP, nhiệm vụ được giao là lái xe, đi giao hàng đến các đi ̣a điểm trong thành phố Thái Nguyên , các huyện lân cận và nhận tiền hàng về giao lại cho công ty. Ngày 10/10/2018, lợi dụng nhiệm vụ được giao , bị cáo đã chở hàng, giao cho các chủ đại lý, cử a hàng và nhận tiền do các chủ đại lý trả nhưng không giao tiền cho công ty như quy định mà thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền hàng23.816.000 đồng của Công ty Trách nhiê ̣m hữu ha ̣n Thương ma ̣i HTP để ăn tiêu.Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài s ản”, được quy định tại khoản 1 Điều 353 BLHS 2015. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội,xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các tổ chức kinh tế; xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo cần thiết phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.Xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo tu dưỡng tốt để trở thành người lương thiện.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản gì nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 353 BLHS 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án , bị cáo đã tác động đến mẹ đẻ là bà Bùi Thị T tự nguyê ̣n bồi thường cho bà Hà Thị N là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH TM HTP số tiền 23.816.000đ (hai mươi ba triệu, tám trăm mười sáu ngàn đồng) để khắc phục hậu quả .Bà N không có yêu cầu gì khác; mẹ bị cáo không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền bà đã bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đào Trung Đ phạm tội “Tham ô tài sản”,
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 353; điểm b, h, s khoản 1Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015, xử phạt:
Đào Trung Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành bản án này.
2. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho Công ty TNHH TM HTP số tiền 23.816.000đ (hai mươi ba triệu, tám trăm mười sáu ngàn đồng).
4. Án phí:Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày; kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; kể từ ngày bị hại nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND TPTN; - Sở Tư pháp tỉnh TN; - Công an TPTN; - THADS TPTN; - Bị cáo,BH; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà |