vanban.org

Bản án 126/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội "Cướp giật tài sản". [2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2019/HSST
Ngày: 16- 10 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thị Thu Hiền – Giáo viên Trường tiểu học Hiệp Tân, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh;

2/ Bà Phạm Thị Nhung – Cán bộ hưu trí;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 121/2019/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th; sinh năm: 1989, tại: Bình Thuận; thường trú: thôn 6, xã Mê P, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn:12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1963 (chết) và bà: Lê Thị Ng, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1991, có 01 người con sinh năm 2018; tiền sự: không; tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày: 09/5/2019. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Tân Phú và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: chị Trần Thị Hồng Th, sinh năm 1998; trú tại: 15/43/6 Cầu Xéo, phường Tân Quý, quận tân Phú, TP. Hồ Chí Minh (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 08/5/2019 Nguyễn Văn Th điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Max, biển số 86K2-2255 một mình lưu thông trên đường Lũy Bán B. Lúc này, Th phát hiện chị Trần Thị Hồng Th đang điều khiển xe đạp điện chạy phía trước cùng chiều, trước giỏ xe có 01 balo nên Th nảy sinh ý định cướp giật để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến trước nhà số 1035 Lũy Bán B, phường Tân Thành, quận Tân Phú Th tăng ga vượt lên áp sát bên phải xe đạp chị Th đang điều khiển và dùng tay trái giật balo rồi tăng ga xe tẩu thoát, chị Th liền truy hô. Lúc này, anh Lê Duy Ph và anh Nguyễn Văn L đang ngồi trước nhà số 740-742 Lũy Bán B thấy sự việc cướp giật nên chạy ra cùng quần chúng nhân dân truy đuổi theo Th. Đến trước nhà số 827 Âu C, phường Tân Thành, quận Tân Phú thì bắt giữ được Th và đưa về Công an phường Tân Thành để làm việc. Kiểm tra bên trong balo mà Th cướp giật có 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y55.

Tại Cơ quan điều tra, Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận định giá số 198/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 19/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Tân Phú đã kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y55, trị giá: 2.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ :

- 01 balo bên trong có 01 ĐTDĐ hiệu Vivo Y55, đã trả cho chị Trần Thị Hồng Th.

- 01 xe mô tô Kawasaki Max, biển số : 86K2-2255, màu đỏ.

- 01 áo khoác dài tay màu đen (áo của Th mặc khi thực hiện hành vi cướp giật).

Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSQ.TP ngày 23 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 03 năm đến 04 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.

- Bị cáo Nguyễn Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: vào khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 08/5/2019, tại nhà số 1035 đường Lũy Bán B, phường Tân Thành, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh. Nguyễn Văn Th đã có hành vi điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Kawasaki Max, biển số 86K2-2255 giật 01 balo (bên trong có 01 điện thoại di động, hiệu Vivo Y55, trị giá: 2.000.000 đồng) của chị Trần Thị Hồng Th đang điều khiển xe đạp điện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Vì vậy, Cáo trạng số 120/CT-VKSQ.TP ngày 23/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi nghị án lượng hình cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Tài sản đã kịp thu hồi và trao trả đầy đủ cho chủ sở hữu nên hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y55 đã thu hồi trả cho người bị hại, chị Trần Thị Hồng Th đã nhận lại và không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô, hiệu Kawasaki Max, màu đỏ, biển số : 86K2-2255, số máy : RNRHD1521MH02976, số khung : RWRKCHAUMBI-102976 là phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, xe không có giấy tờ. Hội đồng xét xử thiết nghĩ nên tiếp tục giao cho Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 áo khoác dài tay, màu đen thu giữ của bị cáo mặc khi gây án. Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại vì không còn giá sử dụng, nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội "Cướp giật tài sản".

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 09 tháng 05 năm 2019.

[3] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác dài tay, màu đen.

- Tiếp tục giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh điều tra xử lý theo quy định của pháp luật đối với 01 xe mô tô, hiệu Kawasaki Max, màu đỏ, biển số : 86K2-2255, số máy : RNRHD1521MH02976, số khung : RWRKCHAUMBI-102976.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 149/PNK ngày 10/5/2019 của Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh)

[5] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ