vanban.org

Bản án 126/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 25/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2019/HSST
Ngày: 25/6/2019

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đồng Trƣng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Phƣơng Mai

2. Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Công Cƣờng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2019/HSST ngày 31 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ - Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Không

- Sinh năm: 1976

HKHKTT: Thôn 1 xã Đ, huyên Đ, tỉnh Lâm Đồng

Chỗ ở: Không nơi cư trú rõ ràng

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Họ tên cha: Nguyễn Văn H (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M - Sinh năm: 1949; Vợ: Quản Thị Th - đã ly hôn; Có hai con, sinh năm 2001 và 2005; Gia đình có ba A em, bị cáo là con thứ nhất

Nhân thân: 01 tiền án, 01 tiền sự

Ngày 22/5/2018, Tòa án nhân dân quận Hà Đông áp dụng khoản 1 Điều 135 xử phạt 14 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, thời hạn chấp hành án từ ngày 12/12/2017 - Chưa được xóa án tích.

Tiền sự: ngày 02/01/2014, Công an phường Hàng Bông xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản

Tạm giữ: 23/3/2019 - Tạm giam: 01/4/2019 - Số giam: 1872T1/5

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.

(Có mặt)

Người bị hại: A Trần Tuấn A

Trú tại P216 C15 khu đô thị Đ, GL Hà Nội (Vắng mặt)

Néi dung vô ¸n

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/3/2019, Nguyễn Văn Đ đi qua lối lên xuống tượng đài Lý Thái Tổ đối diện số 2 Lê Thạnh, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đ nhìn thấy chiếc xe máy Atila, BKS: 30F5 – 26xx của anh Trần Tuấn A (trú tại P216 C15 khu đô thị Đ, GL Hà Nội) tại chỗ để chân có 01 túi xách màu xanh kích thước khoảng 100x60x25 cm bên trong có 04 đôi Patin không có ai trông giữ nên đã trộm cắp chiếc túi và đi về hướng phố Ngô Quyền. Hành vi trộm cắp của Đ bị chị Nguyễn Thu H (Sinh năm 1974, HKTT: Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội) phát hiện và báo với anh Tuấn A, anh Tuấn A cùng anh Đỗ Xuân Thắng (Sinh năm: 2002, trú tại Long Biên - Hà Nội) đuổi theo Đ. Khi đuổi đến gần nhà vệ sinh trên phố Lê Thạch, thì Đ vứt lại túi đồ và bỏ chạy, nhưng bị anh Tuấn A và anh Th bắt giữ đưa về Công an phường Tràng Tiền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Tại bản định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm ngày 30/3/2019 kết luận: 04 đôi giầy trượt Patin có giá trị 800.000 đồng (BL: 26). Chiếc túi bạt màu xanh anh Tuấn A mua đã lâu, cũ nát không còn giá trị nên không có căn cứ định giá

Cơ qua điều tra đã trao trả cho anhTrần Tuấn A 04 đôi giầy trượt Patin và chiếc túi. anh Tuấn A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Tài sản Nguyễn Văn Đ trộm cắp của anh Trần Tuấn A có giá trị 800.000 đồng nhưng nhân thân Đ có 01 tiền án. Ngày 22/5/2018, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 14 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản - chưa được xóa án tích. Nên hành vi trộm cắp này đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 khoản 1 điểm b Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 27/05/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 08 tháng đến 12 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, đủ cơ sở kết luận:

Hồi 20 giờ 30 phút 22/3/2019, tại lối lên xuống tượng đài Lý Thái Tổ đối diện số 2 Lê Thạch, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 04 đôi giầy trượt Patin có giá trị 800.000 đồng của anh Trần Tuấn A và bị bắt giữ cùng tang vật.

Xét thấy: Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá, giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 800.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo đã bị kết án về tội “Cưỡng đoạt tài sản” năm 2018. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam cách ly bị cáo trong một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo cũng như phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không xem xét trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hợp pháp

Vì các lẽ trên:,

QuyÕt ®Þnh

1. Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng.

+ Điểm b khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

+ Điều 135, 331, 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

3. Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 10 (mƣời) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 23/03/2019.

+ Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

4. Án phí quyền kháng cáo:

+ Bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ